dưới đáy đa ̣i dương.
<Phải,> Ax đáp. <Phần thi ̣t thı̀ còn đỡ, có thể tiêu hóa đươ ̣c; chứ còn
phần vỏ của nó thı̀ thâ ̣t khó...>
"Rồi rồi, mı̀nh nghı̃ nhiêu đó đủ cho vu ̣ sên rồi," Jake
nói
.
"Ừm. Có điều calamari không có nghı̃a là ốc sên," Cassie thủng thı̉nh.
"Escargot mới có nghı̃a là sên. Mı̀nh đang nói về...”
<Mı̀nh có mô ̣t ý kiến: tất cả mo ̣i người hãy nói tiếng Anh đi,> Tobias
cau có.
“Mư ̣c!" Cassie đô ̣t ngô ̣t thét lên. Chim chóc đâ ̣u trên cây xung quanh tu ̣i
tôi bỗng nhiên im bă ̣t. Cả tu ̣i tôi cũng im re.
Cho tới khi Tobias nói: <À à, calamari là ba ̣ch tuô ̣c, không phải mực.>
“Ồ. Ai QUAN TÂM?,” Cassie kêu lên. “Mư ̣c. Tu ̣i mı̀nh có thể biến
hı̀nh thành mực khổng lồ. Mực khổng lồ lă ̣n rất sâu. Và chúng có tay, nên
tu ̣i mı̀nh có thể vào đươ ̣c bên trong tàu Pemalite.”
Tôi bắt gă ̣p cái nhı̀n của Marco. “Ta ̣i sao nhỏ không nói vâ ̣y ngay từ
đầu nhı̉?”
“Có thể tiết kiê ̣m rất nhiều thời gian,” Marco đồng ý, liếc nhı̀n quanh.
<Có điều gı̀ ở chuyê ̣n này liên quan tới thuyền trưởng Nemo của các
ba ̣n?> Ax thắc mắc.
Cassie giơ tay lên. “Đó là mô ̣t cuốn sách. Cuộc Hành trı̀nh…”
“Ah HAH! Vâ ̣y đúng là Cuộc Hành trı̀nh!”
“Ý mı̀nh là Cuộc Du hành dưới đáy biển,” Cassie gắt. “Thuyền trưởng
Nemo bi ̣ tấn công bởi mô ̣t con mực khổng lồ.”
“Ai thắng?” Marco hỏi.
“Chờ mô ̣t chút,” tôi nói. “Đó không phải là Cuộc Hành trı̀nh hay Cuộc
Du hành. Đó là Hai vạn dặm dưới đáy biển. Của Jules Verne.”
Nhı̀n Cassie có vẻ như nhỏ sẽ bóp cổ tôi vâ ̣y. Rồi nhỏ nói, “Ồ phải,
Cuộc Du hành là mô ̣t chương trı̀nh tivi. Nó chiếu trên kênh Khoa ho ̣c viễn
tưởng.”
“Tui nghı̃ nó ở trên kênh Nick ban đêm,” Marco nói.
Tất cả mo ̣i người đều cười rúc rı́ch.
“Ai đó hãy go ̣i cho người Chee và nói với ho ̣ rằng ho ̣ tiêu đời rồi,” tôi