<Để rồi xem. Nhı̀n kı̀a! Hı̀nh như là nó... Cái hı̀nh thù với mô ̣t đống
lùng nhùng đi với nhau đó.>
<Nhı̀n ư? Mı̀nh chẳng nhı̀n thấy gı̀ cả. À, ý bồ là đi ̣nh vi ̣ chứ gı̀. Ừ, hı̀nh
như có mô ̣t đàn cá...>
<Có lẽ là mô ̣t con mực. Con nhỏ thôi, không phải là loa ̣i khổng lồ. Trı́
óc cá nhà táng muốn bắt nó. Có lẽ đó là mực.>
<Chẳng cách chi săn đươ ̣c đâu,> Tobias phàn nàn. <Cần phải thấy con
mồi mới làm gı̀ đươ ̣c chớ.
Ý mı̀nh, đó là mô ̣t điều hết sức căn bản của loài
thú săn mồi.>
<Đó là đối với diều hâu thôi,> tôi nói.
<
Với bất kỳ đô ̣ng vâ ̣t ăn thi ̣t có đầu óc nào
.
Cái này điên thâ ̣t. Đuổi theo
hı̀nh ảnh đi ̣nh vi ̣.>
<Để mı̀nh coi xem có đúng không nha. Để xem nó có tê liê ̣t không...>
Lách-tách-Lách-tách-Lách-tách-Lách-tách.
Tôi bâ ̣t ra mô ̣t tràng sóng âm đi ̣nh vi ̣ ở mức maximum, phóng âm thanh
thẳng về hướng hı̀nh ảnh con mực. Đô ̣t nhiên, cái đám đang bơi đó ngừng
chuyển đô ̣ng. <Bá cháy.>
<Nó không kéo dài lâu đâu,> Tobias bı̀nh luâ ̣n.
Tôi cũng đã nhâ ̣n thấy điều đó. <Đám mực này dài cỡ chừng ba tấc à.
Tu ̣i mı̀nh đang nói về thứ có thể trải dài cả mô ̣t sân bóng chuyền và sân
bóng rổ cơ mà. Để chút nữa coi câ ̣u bé bự đó sẽ tê liê ̣t như thế nào, nếu tu ̣i
mı̀nh tı̀m ra nó.>
<Hây, Rachel,> Tobias kêu. <Bồ nghı̃ tu ̣i mı̀nh đã lă ̣n xuống đươ ̣c bao
lâu rồi?>
<Chừng hai mươi phút? Hay là bốn tiếng? Ai mà biết đươ ̣c?> Tôi nói
ảo não. <Mı̀nh bắt đầu cảm thấy sức nă ̣ng của áp suất rồi. Trı́ não cá của
mı̀nh đang bức bối lắm.>
Phần cá nhà táng trong tôi đang khao khát muốn trồi lên mă ̣t nước, còn
phần người của tôi muốn điều đó từ lâu rồi.
<Tu ̣i mı̀nh tách ra đi,> tôi đề nghi ̣. <Tỏa ra tı̀m...>
<Hay lên mô ̣t chút rồi xuống trở la ̣i nha...>
<Mı̀nh không muốn phải lă ̣n nữa,> tôi bàn lui. <Ghê lắm!>