Tu ̣i tôi bơi qua lỗ tường. Cái miê ̣ng ngâ ̣m la ̣i ngay đằng sau cả đám.
Trám kı́n la ̣i y như tu ̣i tôi chưa bao giờ đi qua đó.
<Ừm, coi bô ̣ chẳng tươi sáng gı̀,> Marco kêu rên.
Nước ở bên này bức tường tươi trong hơn. Ít ra có đủ ánh sáng cho tôi
nhâ ̣n thấy bờ trái và phải đầy bùn đất của “dòng sông” nước.
Tôi thâ ̣n tro ̣ng ló lên bề mă ̣t (dù sao thı̀ nó cũng có bề mă ̣t).
<Mı̀nh hoàn hı̀nh đây, để coi xem không khı́ ra sao.>
Tôi hoàn hı̀nh. Không khı́ nguô ̣i, nă ̣ng và ẩm ướt, nhưng dù sao cũng thở
đươ ̣c. Bo ̣n ba ̣n làm theo. Cả bo ̣n loi ngoi tấp lên ma ̣n trái của con đường
nước.
Sau mô ̣t phút, mắt người bắt đầu quen với bầu khı́ quyển lung linh ở
đây. Khoảng không gian ta ̣o cho tu ̣i tôi cảm giác mênh mông bao la. Nó
rô ̣ng lớn hơn khu liên hơ ̣p vũng Yeerk nhiều. Mô ̣t cái hang vô tâ ̣n, có thể
chứa lo ̣t cả hòn đảo Manhattan.
Tôi chớp mắt và liếc nhı̀n quanh. Ánh sáng ở đây hı̀nh như không có
xuất xứ. Không có mă ̣t trời, không trăng sao, không đèn dầu, không đèn
điê ̣n. Cứ như là nước sóng sánh mà thành.
Mới đầu tôi chẳng nhı̀n rõ mă ̣t bo ̣n ba ̣n. Mô ̣t hồi sau tôi mới thấy vẻ mă ̣t
bơ phờ, khiếp hãi của tu ̣i nó - may là không đứa nào bi ̣ thương.
Tôi nhı̀n quanh quất
, và khi mắt tôi dần thı́ch nghi, những hı̀nh ảnh từ từ
hiê ̣n ra. Nhưng mà
là những thứ… không thể tin nổi.
Cách chừng vài chu ̣c mét là mô ̣t con tàu bằng gỗ. Nó có ba cô ̣t buồm
cao. Trên boong đă ̣t những u ̣ súng - có khoảng mười tám khẩu nằm tô hô,
chı̀a ra cái
nòng
bằng đồng thau hoă ̣c sắt cũ xı̀. Những lá buồm treo rũ trên
các cần căng buồm. Những dây thừng và sơ ̣i cáp đều sờn tưa. Tuy nhiên,
tất cả không có gı̀ ra vẻ là mu ̣c nát như chúng đáng ra như vâ ̣y. Dẫu gı̀ thı̀
gần hai trăm năm nay đâu còn con thuyền nào kiểu này qua la ̣i trên đa ̣i
dương.
Nó nằm trong bến cảng khô ráo, trên mô ̣t giá đỡ bằng san hô.
“San hô?” Cassie tròn mắt. “Gần đây làm gı̀ có san hô.”
Marco đưa mắt nhı̀n nhỏ. “Thế cái gı̀ làm bồ bức bối? San hô hả? Có
mô ̣t tàu hải quân ba cô ̣t buồm nằm chù u ̣ ở đây như thể trôi tấp vào từ cuô ̣c