chiến năm 1812 vâ ̣y.”
<Và mô ̣t thủy thủ đoàn nữa chứ,> Tobias thêm.
“Cái gı̀?”
<Ban đêm tầm nhı̀n của mı̀nh tuy không tốt lắm nhưng mı̀nh thấy có
nhiều người ở trên những cần căng buồm.>
“Bồ nói ‘người’ nghı̃a là sao?” Tôi hấp tấp hỏi.
<Người chết. Không cựa quâ ̣y. Không thở.
Cứng đơ ta ̣i chỗ.
Khoảng
chừng hơn hai chu ̣c ma ̣ng.>
“Eo ôi, tu ̣i mı̀nh đi thôi,” Marco rên rı̉.
“Dởm,” Rachel khı́ch bác.
“Dởm á?! Marco rı́t lên. “Nguyên con thuyền đầy người chết, chuẩn bi ̣
dong buồm ra khơi và hát ‘dô hò dô
nào, kiếp hải tă ̣c của ta đây
’ trong cái
hang dưới nước rô ̣ng cỡ Hồ Erie mà bồ kêu là ‘dởm’ hả?”
“Nhı̀n xuống dưới kı̀a,” Rachel la, chı̉ xuống dòng nước, qua thuyền
buồm.
Mô ̣t khoảng tối khác hiê ̣n ra. Tu ̣i tôi lò dò bước về phı́a ấy, dưới ma ̣n
khuất gió của con thuyền và những cô ̣t buồm cao nghê ̣u.
Chúng tôi lò dò tiến về phı́a mô ̣t con tàu khác tương tự như con tàu đầu
tiên. Cũng là thuyền buồm, nhưng xưa cũ hơn. Thân nó hơi tròn, cô ̣t buồm
ngắn hơn. Ở đằng đuôi có
trang trı́
mô ̣t ngo ̣n tháp đươ ̣c tı̉a tót cầu kỳ.
<Thuyền buồm Tây Ban Nha chăng?> Tobias tư ̣ hỏi.
Đám dây thừng ở đây cũng lỏng lẻo, những lá buồm giăng mắc như hàng
dây phơi quần áo trong mô ̣t ngày tı̃nh lă ̣ng khủng khiếp.
Và ở đây, cũng
vâ ̣y, Tobias báo cáo về những khuôn mă ̣t râu ria nguếch ngoác, đôi mắt vô
hồn.
“Nè mấy bồ, tui hổng biết có còn người nữa không, nhưng bản năng của
tui đang mách bảo tui rằng: ‘Mi làm đủ rồi, Marco. Về nhà thôi. Về mà
chơi với con chó xù ngốc nghếch của mi và làm bài tâ ̣p về nhà…’”
"Mı̀nh cũng có cảm giác đó, Marco," tôi nhe ̣ nhàng nói. “Nhưng tu ̣i
mı̀nh đã xém bi ̣ giết vı̀ ráng theo tàu Đao Phủ Biển. Mı̀nh không muốn phải
làm la ̣i chuyê ̣n này lần thứ hai, mı̀nh muốn chắc chắn là nó đã chı̀m.”
<Và đây chắc chắn là mô ̣t hiê ̣n tươ ̣ng đầy mê hoă ̣c> Ax tiếp lời.