Cả đám đi qua chiếc thuyền buồm Tây Ban Nha. Và la ̣i thấy mô ̣t con tàu
khác - nhỏ và go ̣n nhe ̣ hơn.
<Tàu P
emalite
,> Tobias vo ̣t miê ̣ng.
Tu ̣i tôi vẫn bước, cảm thấy bùn đă ̣c quánh bàn chân, những trái tim đâ ̣p
bùm bu ̣p trong lồng ngực.
“Ô, đó không phải là tàu. Mà là mô ̣t bức tường
hay gı̀
gı̀ đó,” Rachel ồ
lên.
“Đı̉nh nó cong xòe ra ngoài,” Cassie chı̉ ra. “Nhưng nó lớn quá, không
thể là tàu đươ ̣c.”
“Tobias?” Tôi go ̣i.
Câ ̣u ấy liền đâ ̣p cánh lia li ̣a và hút khỏi tầm mắt. Tôi nhấp nhổm chờ.
Lát sau, Tobias quay trở la ̣i và đâ ̣u trên cánh tay vươn đón của Rachel.
<Nó là mô ̣t tàu sân bay… của Nhâ ̣t. Có mô ̣t lá cờ Nhâ ̣t hồi Thế Chiến
thứ II. Thâ ̣t không thể tin đươ ̣c.>
“Chắc hẳn ở đó có đèn hiê ̣u, tu ̣i mı̀nh có thể dùng bóng đèn, và cả vũ
khı́ nữa,” tôi nói. “Cũng đáng cho tu ̣i mı̀nh ngó vào mô ̣t chút. Có đường
nào để lên không?”
<Vòng ra phı́a đằng kia. Có mô ̣t cầu thang với những bâ ̣c thang kỳ la ̣ -
chưa hẳn là bâ ̣c thang.>
“Đi nào.”
Tu ̣i tôi lòn dưới mũi tàu nhỏng cao như mô ̣t tòa nhà. Ở đó, đúng như
Tobias nói, có mô ̣t cái cầu thang.
“Ê, tu ̣i mı̀nh có phải mua vé không nhı̉?” Cassie nói tı̉nh ru ̣i.
Tôi dẫn đầu cả bo ̣n đi lên các bâ ̣c thang. Quả là mô ̣t cuô ̣c leo trèo dài,
nhưng cuối cùng cả bo ̣n cũng lên tới sàn tàu sân bay. Có hai máy bay đang
đâ ̣u, nhı̀n như chuẩn bi ̣ làm phi vu ̣ Trân Châu Cảng lần thứ hai.
Những phi công cười toe toét - nhưng… đã chết.
Sàn tàu sân bay rô ̣ng như sân bóng đá.
Tôi vẫn đi đầu, không muốn thấy cái gı̀ bên trong đó nữa cả. Tôi cảm
thấy bất an trong da ̣ng người nhưng cả bo ̣n đã mê ̣t lả vı̀ biến hı̀nh tới lui
rồi.
Nhưng đươ ̣c cái là tu ̣i tôi còn có Ax.
Ax gõ móng guốc ı̀nh ı̀nh vào
khoảng trống im lă ̣ng đến rơ ̣n gáy. Dầu cũng mê ̣t tơi bời như tu ̣i tôi, nhưng