lôi vào đây: tàu Đao Phủ Biển.
<Ha ̣ cánh nào,> tôi hét.
<Đằng kia có chỗ đâ ̣u tốt, trên ngo ̣n tháp ı́,> Tobias chı̉. <Nhı̀n như
cái
cô ̣t buồm bằng gỗ có mô ̣t cái t
ổ qua ̣ vâ ̣y.>
<Hây, coi tu ̣i mı̀nh có gı̀ nè.> Marco lách chách. <Món đồ chơi mới
của Visser Ba đã bi ̣ hốt lên bờ, đang sẵn sàng cho viê ̣c tháo dỡ phu ̣ tùng.>
Ngay bên ca ̣nh tàu Đao Phủ Biển là mô ̣t tòa nhà dềnh dàng hı̀nh kim tự
tháp, cao hơn hẳn tất cả các toà nhà khác trong tầm mắt.
Hơi nước ơ ̣ tung tóe từ hàng trăm tuabin nối với những kè đá. Và những
kè đá hơ ̣p thành dãy bâ ̣c thang tự nhiên, dẫn tới đı̉nh de ̣p của toà nhà.
<Hừ, đi ̣a lý là môn mà tui dở nhất,> Marco ca cẩm. <Li ̣ch sử tui cũng
chẳng khá hơn. Có ai nghı̃ đây là nền văn minh Aztec, Maya hay Inca
[5]
không? Đây là mô ̣t kiến trúc cổ của Nam Mỹ hay Bắc Mỹ chăng?>
<Ngoa ̣i trừ những ống khói
bằng kim loa ̣i
,> tôi đáp.
<Chắc vâ ̣y rồi bởi vı̀ cả hai bồ đều thông tha ̣o về kim tự tháp mà,>
Rachel xiên xỏ.
Tôi tâ ̣p trung vào bến cảng.
<Hork-Bajir,> tôi thốt lên. <Coi kı̀a.>
Mô ̣t do ̣c cỡ chừng hai mươi lăm tên Hork-Bajir cao lềnh khềnh
hơn hai
mét
đang chui ra khỏi tàu Đao Phủ Biển. Mô ̣t bầy sinh vâ ̣t
khoảng mười
tên
màu xanh da trời, có mang cá, sử du ̣ng mô ̣t mớ vũ khı́ ta ̣p nham - từ
thương giáo thô sơ tới súng vũ khı́ tự đô ̣ng đời mới - đang xua dồn lũ
Hork-Bajir la ̣i.
Đám thủy thủ đoàn của gã Visser bi ̣ cùm dı́nh mắt cá vào nhau, lê chân
bước đi, đầu cúi gằm. Tay chúng bi ̣ trói oă ̣t ra trước, cả đám bi ̣ giải vào
tòa nhà hı̀nh kim tự tháp bằng đá.
<Không có Visser Ba,> Tobias tiếc rẻ.
<Hẳn là hắn không lên tàu…> Tôi đáp.
<Hoă ̣c hắn đã bi ̣ bắt làm tù binh,> Cassie phỏng đoán.
<Hoă ̣c đã trốn thoát,> Rachel thêm. <Có khi hắn biến thành con gı̀ đó
nhỏ nhỏ và chui qua ma ̣ng lưới màu xanh da trời có mang cá kia thı̀ sao?
Giống như tu ̣i mı̀nh thường làm ı́ mà…>