<Dẫn đường đi.>
Tobias nhào xuống khung cửa mở, nấn ná mô ̣t chút cho tu ̣i tôi thấy câ ̣u
ấy đi đường nào. Rachel theo sát liền. Năm sáu người Nartec cố chă ̣n
đường bi ̣ nhỏ ga ̣t ra như chiếc xe buýt đang cha ̣y giữa đống thùng carton.
Không gı̀ án ngữ nổi đường tấn công của gấu xám.
Nhưng dù sao vẫn
không có cảnh thi ̣t rơi máu đổ.
Tu ̣i tôi băng ào theo đường cha ̣y của
Rachel. Mô ̣t bàn tay gấu bự chù vù túm lấy cánh cửa kim loa ̣i, và…
Rầ ầmm!
Cánh cửa nă ̣ng chi ̣ch đóng la ̣i. Marco giúp Rachel cài then cẩn thâ ̣n.
<Hoàng tử Jake,> gio ̣ng Ax hối hả. <Tôi cần sự trơ ̣ giúp để di chuyển
cư ̣u thủy thủ đoàn của Visser Ba khỏi vi ̣ trı́ của chúng.>
Tu ̣i tôi bấn bı́u cha ̣y vào hành lang dẫn tới mô ̣t trung tâm kiểm soát. Và
dừng sững la ̣i trước ngưỡng cửa cầu trực chiến.
<Ô… trời ơi,> Cassie rú lên.
Bo ̣n Hork-Bajir bi ̣ ướp. Kẻ thı̀ ngồi thẳng đơ trên những chiếc ghế dành
cho phi công và những kỹ thuâ ̣t viên, kẻ đứng trước màn hı̀nh, kẻ đang cúi
xem bản đồ radar.
Tôi ráng để không o ̣e ra. <Quên chúng đi,> tôi quát. <Đẩy chúng qua
bên rồi làm viê ̣c. Chúng ta không có thời gian.>
Mă ̣c dù những xác Hork-Bajir ướp không nă ̣ng bằng khi chúng còn sống
vı̀ xương, ruô ̣t, cơ bắp đã bi ̣ lấy hết - nhưng cũng chẳng dễ di chuyển
những cơ thể đầy gươm đao này chút nào.
Cha ̣m vào chúng còn khó hơn khi biết rằng cách đây vài giờ chúng vẫn
thở bı̀nh thường, khi phải nhớ la ̣i những tiếng Hork-Bajir thét gào khi tu ̣i
tôi đang ở trong cung điê ̣n của Nữ hoàng Soco, khi nhớ tới Hahn.
<Ax? Bồ có điều khiển đươ ̣c những máy móc này không?>
Ax đứng trước bảng điều khiển chı́nh của cầu trực chiến, quay lưng về
phı́a cả bo ̣n. <Con tàu này đã đươ ̣c sửa chữa la ̣i hoàn toàn. Tuy nhiên, tôi
có thể nói rằng, nó đã đươ ̣c khóa kỹ bằng mô ̣t giao diê ̣n an ninh. Tôi sẽ cố
vươ ̣t qua.>
<Tobias? Nhı̀n qua lỗ cửa quan sát bên ngoài xem sao.>
Câ ̣u ấy bay lên. <Không tốt rồi, Jake. Chúng ta đã bi ̣ bao vây. Rất đông.