“Tư ̣ do dẫn dắt chúng ta,” tất cả mo ̣i người đáp lời.
<Vı̀ nó mà chúng ta sống.>
“Tư ̣ do là tất cả.”
Những cái đầu cúi xuống. Mô ̣t người đàn ông hỏi đám trẻ liê ̣u tu ̣i nó có
muốn kể cho mo ̣i người nghe về những điều chúng đã làm trong tuần hay
không. Người phu ̣ nữ làm quản ca tiến về phı́a tôi.
“Chốn này là thế nào?” Tôi hỏi. “Các ba ̣n có phải là nhóm người mà
Cassie đã kể tôi nghe không? Các ba ̣n là người tự do ư?”
“Đúng. Vâ ̣y là Cassie gửi câ ̣u tới đây à?”
“Ừm, không phải. Ý tôi là tôi không biết. Tôi chı̉ rơi qua mô ̣t cái hố
trên sàn nhà và…”
“Sàn nhà không tự nhiên bâ ̣t mở cho bất cứ ai đâu. Phải là Cassie muốn
câ ̣u trải nghiê ̣m kı̀a. Câ ̣u thấy đấy, tất cả thanh niên chỗ chúng tôi đều ở
trong tổ chức EF. Cho tới giờ phút này, chúng tôi là những người mà ho ̣ đã
cứu giúp. Chúng tôi già đi, chúng tôi nuôi nấng trẻ con và da ̣y chúng ho ̣c.”
Bà chı̉ ngươ ̣c la ̣i phı́a cái cây. Đó là tuần lễ nghê ̣ thuâ ̣t bởi vı̀ mỗi đứa trẻ
sẽ có trong tay mı̀nh mô ̣t bức tranh do nó tự sáng tác. Bức tranh nhỏ thôi,
nhưng rất phức ta ̣p. Từng đứa mô ̣t sẽ phải diễn giải quá trı̀nh thực hiê ̣n của
nó trong khi những đứa khác lắng nghe.”
“Đây là những đứa trẻ khỏe ma ̣nh đầu tiên mà cháu trông thấy kể từ lúc
có mă ̣t ở đây.”
Người phu ̣ nữ gâ ̣t đầu và siết chă ̣t cánh tay tôi.
“Đó là mô ̣t câu chuyê ̣n buồn, chắc chắn là như thế. Để ta kể cho câ ̣u
nghe.” Bà ha ̣ thấp hẳn gio ̣ng xuống. “Bo ̣n Yeerk nuôi nấng bo ̣n trẻ trong
mô ̣t nhà kho lớn phı́a sau thành phố. Bo ̣n Mươ ̣n xác, những kẻ mà câ ̣u
trông thấy đấy, đươ ̣c cho ̣n lư ̣a hú ho ̣a để thực hiê ̣n cái viê ̣c sinh sản. Khi
bo ̣n trẻ đươ ̣c sinh ra, chúng đưa tới mô ̣t trong những lều cỏ hoă ̣c mô ̣t nhà
kho và giữ tu ̣i nó ở đó cho tới 15 tuổi. Cuô ̣c sống của bo ̣n trẻ bi ̣ kiểm soát,
mă ̣c dù không có Yeerk nào ở trong đầu. Chúng đươ ̣c cho là những cơ thể
vâ ̣t chủ yếu ớt và không có giá tri ̣.”
“Trong quãng thời gian bi ̣ câu thúc này,” bà tiếp tu ̣c, “bo ̣n trẻ đươ ̣c bơm
đầy đủ các dưỡng chất bổ sung cốt để Yeerk có đươ ̣c những cơ thể vâ ̣t chủ