Để hỗ trợ cho những nỗ lực của Trưởng, Bộ Tổng Tham mưu Sài Gòn đã
tăng phái cho quân khu Một một lữ đoàn Dù và một liên đoàn Biệt động
quân. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên địa bàn quân khu Hai và quân khu
Ba các lữ dù số 2 và số 3 đều được tăng phái cho quân khu Một. Ngoài ra
các lữ đoàn thiết kỵ và pháo binh bị thiệt hại ở Quảng Trị đã được bổ sung
đầy đủ trang bị. Tính đến trung tuần tháng Năm, quân số xung quanh thành
phố Huế đã lên tới 35 nghìn. Với những nỗ lực này Sài Gòn hy vọng Huế sẽ
đứng vững và có thể phản công tái chiếm lại Quảng Trị.
Những cố gắng của Sài Gòn, lại được công cuộc Mỹ hóa trở lại của Mỹ hỗ
trợ cộng với những khó khăn trong công tác tiếp vận bổ sung của ta đã làm
chậm lại nhịp độ tiến công trên tất cả các mặt trận.
Tại B2, sau 5 lần tiến công thị xã An Lộc không thành công, Bộ Tư lệnh
Miền quyết định bỏ mục tiêu này để tập trung vào các nhiệm vụ khác. Một
sư đoàn và đại bộ phận binh chủng hợp thành chuyển địa bàn về khu Tám
hỗ trợ cho chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, phá thế kềm kẹp của
bình định. Lực lượng của miền đông chuyển sang làm nhiệm vụ bao vây
An Lộc và giữ vững hai huyện mới giải phóng là Lộc Ninh, Bù Đăng. Tuy
vẫn giữ được An Lộc nhưng trên chiến trường miền Đông địch vẫn ở thế bị
động đối phó, luôn lo sợ ta phát triển xuống vùng trung tuyến và vùng sâu.
Bộ Tư lệnh Miền cũng ra quyết định thành lập Đoàn cơ giới M26 trực thuộc
Miền nhằm thống nhất chỉ huy các đơn vị tăng thiết giáp trên chiến trường
B2.
Tại B3, sau khi tiêu diệt Đắc Tô- Tân Cảnh ta tiếp tục tiến công một số cứ
điểm như Plây Cần, K- Leng… để mở đường xuống đánh Kon Tum. Tuy
nhiên, do địch đã kịp tăng viện và có thời gian chuẩn bị nên cuộc tiến công
thị xã Kon Tum gặp nhiều khó khăn, ta bị tổn thất khá nhiều. Vì vậy Bộ Tư
lệnh B3 quyết định tạm ngừng tiến công, tổ chức củng cố lực lượng và bảo
vệ vững chắc vùng giải phóng. Tiểu đoàn 297 rút về tập kết ở chân dãy
Ngọc Linh, củng cố xe pháo và chờ tiếp viện từ Bắc vào.