Thomas Mann (1875-1955): nhà văn người Đức có tư tưởng
nhân đạo dân chủ tư sản, chống phát xít.
Không nên hiểu điều này là sự phản kháng đối với “nghệ thuật
hiện đại” nói chung, mà chỉ với khía cạnh khá phổ biến trong nghệ
thuật tuyên bố rằng nghệ sĩ nên đại diện cho thời đại mình. Và vì đây là
thời đại kho phế liệu, bảng hiệu, và những khu ổ chuột đắt tiền, nhiều
nghệ sĩ - nói cách khác là thiếu thốn tài năng - tạo tên tuổi bằng cách
đóng khung “một cách thầm mỹ” hay dựng lên bệ những cái nghệ thuật
nhặt được (objets trouvés) từ trong đống rác thành phố. (TG.)
Henry Miller (1891 -1980): tiểu thuyết gia, họa sĩ người Mỹ.
ông đã có những tác phẩm được xem là thách thức giá trị Mỹ.
Nguyên bản là “Gowith”, tác giả ghép hai từ “go with” lại.
Lý thuyết Gestalt là một học thuyết tâm lý học của trường phái
Berlin về tư duy và trí não người. (ND.)
Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955): triết gia, nhà cổ sinh
học, linh mục người Pháp.
Douglas Edison Harding (1909-2007): nhà thần học, triết gia
người Anh.
Tôi xin cảm ơn Owen Barfield, Saving the Appearances, Faber
& Faber, London, 1956, về minh họa này. (TG.)
William Blake (1757-1827): nhà thơ lớn của nước Anh thế kỷ
18.
David Bohm, Quantum Theory. Prentice-Hall, New Jersey,
1958, tr. 161-162. (TG.)
Baruch Spinoza (1633-1677): nhà triết học duy lý người Hà
Lan gốc Do Thái.
Erwin Schrodinger, My View of the World. Cambridge
University Press, 1964, tr. 21-22. (TG.)