cùng. Cha của Dục Hiền có tên là Cánh Dương, vốn là một tú tài
nghèo rớt mồng tơi. Bạn bè ngày trước cũng từng giới thiệu cho ông
ta vài đám, song vì quá nghèo nên không thành duyên số. Sau có
người giới thiệu, nên trở thành con rể của nhà tài chủ họ Phương ở
huyện Lai Thủy. Vợ ông ta là Phương Thị, vừa xấu, vừa rỗ mặt,
nhưng Cánh Dương cũng không chê bai gì cả. Sau khi cưới thì ở luôn
nhà vợ. Do chăm chỉ học hành, ông ta thi thố đỗ đạt, được bổ nhiệm
làm Tri phủ Quảng Đông. Phương Thị sau sinh ra hai con là Dục
Hiền và Dục Tuấn.
Dục Tuấn làm hậu bổ đạo Thiểm Tây, khi nghe tin anh mình bị
phế, liền tới Thái Nguyên, nói dối với mẹ rằng:
- Đại cả phụng chỉ có việc đi sang tỉnh khác, kính mời mẹ trơ về
Bắc Kinh.
Dục Tuấn đưa mẹ về Bắc Kinh, sống ở ngõ Phong Thịnh lầu
Tây Tử. Vợ chính của Dục Hiền mất sớm. Ở Thái Nguyên, ông ta có
5 người thiếp là Trúc Quân, Cúc Tiên, Tuyết Thuyền, Tiểu Hồng
và Tiểu Lục. Khi Dục Hiền bị phế, con trai của Trúc Quân là Ảnh
Quan cùng với Tiểu Hồng và gia đình đi theo chăm sóc ông ta.
Những người khác đều bị Dục Hiền bắt phải tự tử trước khi ông ta
ra khỏi nhà. Lúc đầu Dục Hiền rơi xuống đất Lan Châu, Ảnh
Quan đã chặt đầu một con ga trống để tiếp dẫn vong hồn, sau đó
cùng Tiểu Hồng, nối đầu với thân Dục Hiền với nhau, mai táng
cẩn thận.
Quay lại chuyện các nước gây sức ép bắt Trung Quốc phải cắt
đất bồi thường, được phía Trung Quốc đồng ý, đã vô cùng thỏa
mãn. Oatơxi lập tức bàn bạc với các nước về việc rút quân, chẳng
cần đợi khánh thành bia tưởng niệm nữa. Còn việc xử tội Ân Hải, cử
đại thần Đức đến gặp triều đình nhà Thanh, tiến hành theo đúng
như bản nghị hòa đã định.