không rời Đni-ép-rơ. Đút-ca làm việc ở bến cảng sông Đni-ép-rơ, còn Khô-
men-cô lao động trong nhà máy thủy điện Ki-ép.
Lẽ nào có thể quên được chiến công của người lái tàu hỏa V. I. Ca-dan-
xki?! Đồng chí bị thương cả hai chân nhưng vẫn không rời vị trí, và tuy mất
nhiều máu, vẫn đưa đoàn tàu về đến địa điểm quy định.
Tinh thần hy sinh quên mình của nhân dân lao động nước Cộng hòa Xô-
viết U-cra-i-na đã cổ vũ các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy, củng cố thêm tinh
thần bất khuất và ý chí chiến thắng của họ.
Tôi còn nhớ, trong những ngày gian nguy vào tháng Bảy và tháng Tám
năm 1941, tư lệnh các tập đoàn quân, cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị các
binh đoàn đã báo cáo về Hội đồng quân sự phương diện quân là họ thực sự
bị những người tình nguyện bao vây. Những người không được chính thức
ghi tên vào đơn vị thường trở thành những chiến sĩ “bí mật”. Trong những
giờ phút chiến đấu nóng bỏng nhất, cán bộ chỉ huy bỗng phát hiện là quân
số đơn vị đột nhiên tăng lên.
Họ từ đâu đến? Đó là những thiếu niên và cụ già vì hạn tuổi không được
nhận vào bộ đội, đã cầm súng của những người hy sinh, và cùng với các
chiến sĩ Hồng quân xông lên công kích. Nói theo các nhà luật pháp và nhà
ngoại giao, họ đã trở thành những chiến sĩ trên thực tế. Sau đó, từng đoàn
đại biểu kéo đến gặp các cán bộ chỉ huy để chứng minh cho những người
này là những người lính dũng cảm, có nên giữ họ lại với chúng ta không?
Và rồi phải công nhận những người tình nguyện ấy về mặt pháp lý, ghi tên
họ vào danh sách đại đội với đầy đủ mọi thủ tục.
Tướng G. I. Séc-xti-úc, sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 45, đã kể lại cho
tôi nghe về một trong những chiến sĩ tình nguyện ấy.
Trong các trận đánh bảo vệ thành phố Ma-lin, một cậu bé 15 tuổi, học
sinh trường trung học tên là Li-ôn-ni-a Txư-ba đã đi theo một đại đội bộ
binh của sư đoàn đồng chí. Các chiến sĩ chăm sóc, yêu mến chú bé dịu
dàng và sáng dạ, cố giữ chú ở xa tuyến trước và được ở gần nhà bếp, chú
vui vẻ giúp đỡ đồng chí cấp dưỡng. Nhưng một hôm, đại đội đang tiến lên