CHUYỆN NHÀ QUÊ - Trang 93

đít con Thủy, và miếng bún thấy ngon thêm bội phần, cắn con ốc cái sật
nhai nhồm nhoàm đã đời như đớp phải mòng con bé.

Con bé lúi húi bưng bê dọn dẹp rửa ráy chưa khi nào thấy nó ngẩng

mặt lên, chưa thấy ai gọi mà nó mở miệng đáp, người gọi Thủy ơi lấy
anh quả ớt, người gọi con ơi lấy bác nhúm mùi. Nó lẳng lặng đáp ứng
nhưng cất tiếng vâng dạ thì tuyệt nhiên không. Người nói có khi con bé
này câm, người nói câm đéo đâu, gái thời nay thế, hễ mọc mầm được
chút gì ngon ngon là mặt vênh mày váo.

Oan cho con bé, nó đổi tính từ thủa 13 tuổi, từ ngày bố nó lâm bệnh.

Bố nó là ông Quý dạy toán cấp ba, đẹp trai cực kì, bà Tiên hồi đó học
sinh lớp 12, mê man theo ông, suốt ngày rình ông đến chỗ vắng thì chạy
vụt ra, nói em chào thầy, rồi cười rinh rích ù té chạy, mông đít ngoay
ngoảy. Đêm ông đang soạn bài ở phòng nội trú, bà lén vào ném qua cửa
sổ khi thì bông hồng khi thì bài thơ, nói thầy ui em dớ thầy, rồi lại cười
rinh rích ù té chạy. Đến khi không chịu nổi, bà nhảy ào vào phòng ông,
cởi tuột áo phơi cả cặp tuyết lê đẹp mê hồn, nói dạ thưa thầy. Ông Quý
hốt hoảng vùng dậy, nói chết chết mặc áo vào đi em, chết chết. Bà ôm
chặt lấy ông, nói không không em muốn chết, thầy cho em chết đi.

Lấy được ông Quý, bà Tiên sướng như mê, đẻ được con Thủy vẫn

sướng như mê. Chẳng dè ông bị tai nạn, vẹo cột sống, chấn thương sọ
não, mặt mày méo xẹo, sợ nước sợ gió, sợ cả người, suốt ngày ngồi ru
rú trong phòng. Hai mẹ con chạy ngược ngước xuôi chạy chữa cho ông,
vay tiền cả khu phố đưa ông sang tận Singapore, tiền mất cứ mất tật
mang cứ mang, bệnh ông ngày một trầm trọng, nhìn ai cũng ra phản
động với khủng bố. Họ bán căn hộ trả nợ, kéo nhau về ngõ này.

Đây là ngõ cụt, rộng chừng tám tấc sâu hun hút, hai bên đặc quánh

chẳng có nhà nào. Đi mãi mới gặp nhà ông Quý bà Tiên chia ra hai
ngách, ngách trái chừng 10 mét vuông, ngách phải chừng 20 mét
vuông. Đi thêm một khúc nữa thì có thêm nhà ông Đức bà Hiền gác
dưới, nhà ông Bá và thằng Hoàng con trai ông gác trên. Nghe nói ngõ
này xưa là lối vào chuồng ngựa của một tư sản giàu sụ, đã dinh tê vào
Nam năm 1950. Nhà ông Đức Bà Hiền là chuồng ngựa, gác trên nhà