Những lá thư cuốn hình tổ sâu đan đi đan lại, nối nơi cầm cố với ngoài
đời, cũng không khác với một nơi cầm cố nhiều lắm. Có thể hình dung
trong lòng người con gái đầy hoài bão, khao khát một cuộc sống mới mẻ,
mạnh mẽ ấy hai quá trình diễn ra khá nghịch ngược nhau. Đằng này, là
“thần tượng” trần trụi, cụ thể, đương nổi loạn chống lại trật tự hiện hữu.
Đằng kia là Nước Chúa vĩnh cửu, người ta hướng đến để có sự yên hằng.
Bên ngoài là con chiên siêng năng ăn nhời cha, bên trong lại giao du với
phản nghịch. “Đu đưa” giữa hai nhẽ, cô gái vừa mơ màng vừa tủm
tỉm cười.
Được 6 tháng, thì vụ “đánh lừa” Trần Huy Liệu - mà chả phải là để
đùa cợt - tắt cái phụt. Đang học kinh trong nhà thờ, Bách bị điệu ra, tống về
đất. Những mối liên hệ của cô đã bị nhà cầm quyền trên đảo biết. May
không thành bạn tù với Liệu, chắc vì những thủ tục truy tố chưa đủ. Nhưng
khi rời đảo, giữa tiếng còi tầu tu tu, cô chỉ muốn nhảy xuống biển quay lại
với người ấy.
Bách đi, rồi Hồng hết hạn cũng về Sài Gòn, lại mở nhà hộ sinh Hồng
Phúc. Năm 1935, cầm tờ “Tiếng vang” ra ở Hà Nội, đọc bài đánh Tự Lực
Văn Đoàn, trái tim Bách lại trồi đập dữ dội. Hồng “lăn” vào các hoạt động
thời Bình dân, đi suốt ngày, giấy tờ, thư từ, trong đó có cả của Liệu đến chả
đọc bao giờ, phó cả cho Bách. Ban đầu, cô chị tưởng cô em, chắc là hơn vài
tuổi, cũng yêu Liệu. Nhưng rồi tìm cách “thanh kiểm tra”, thấy trong tim
Hồng chả chỗ nào có chỗ cho “thần tượng” của mình, Bách nối lại cuộc
“đùa dai” bắt đầu từ trên đảo.
Hồng lấy chồng. Chả còn lý do gì để “náu mình”, Bách “ra công khai”
bằng lá thư kể tình đầu, mong Liệu tha lỗi. Cái phải đến đã đến. Trong thư
trả lời, Liệu nhận ngay Bách là “người vợ yêu quý của anh”. Họ đã gặp
nhau trong tình trạng “tình trong như đã mặt ngoài còn chưa tỏ” thế nào?
Dường như đã có một giai thoại. Rằng, vì Liệu không được phép vào Nam
kì nữa, hai người hẹn giáp mặt ở Huế, với “kí tín ám hiệu” anh cầm quyển