“Đó là điều em trai tôi nói hoài trong hai tháng trước khi nó chết.”
“Bạn ơi,” một người nói với xúc cảm bất chợt, “giờ của mình sẽ
đến.”
Họ lại chìm vào im lặng. Mẹ động đậy, định nói gì đó nhưng im. Rồi
bà đứng dậy, nắm tay tôi, và chúng tôi đi ra con đường gồ ghề về
hướng đường chính. Bà ra vẻ như đây là chuyến đi vô tư, nhưng tôi
cảm được sức nặng của mối lo âu trong bà.
Quanh chúng tôi, các tiếng nói dậy lên trong tiếng cười và nỗi đau.
Chúng tôi đi qua khu đất rậm rạp phía sau, nơi vang dội tiếng hát và
tiếng nhảy múa trong nhà thờ mới. Họ hát với niềm hăng hái dễ sợ,
với niềm hi vọng dữ dội, nhu cầu lớn lao và nỗi buồn vĩ đại. Họ khiến
tôi có cảm giác bất cứ phút nào thế giới cũng kết thúc được. Tiếng hát
trong nhà thờ làm tôi sợ đời sống. Chúng tôi đi qua họ và lâu sau đó
vẫn nghe tiếng họ. Xa hơn, phía sau các lùm cây, đất rung lên thêm
tiếng cầu kinh, nhảy nhót và tiếng hát. Nhưng thật khác biệt, vì tiếng
cầu kinh sâu thẳm hơn, tiếng nhảy nhót hùng tráng hơn, làm chính trái
đất nhìn nhận nhịp đập vào các cánh cửa của nó, còn tiếng hát tràn
đầy bí ẩn và những giọng nói làm kinh sợ. Nghe giống buổi tưởng
niệm về nỗi đau cũ, nỗi buồn xa xưa đó chẳng chịu ra đi và một tai
ương cũ đã thay mới lúc ban tối. Họ là kẻ sùng bái ở ngôi đền thờ khổ
đau, và chúng tôi nghe họ kêu xin cho được bí mật làm biến đổi nỗi
thống khổ thành sức mạnh. Chúng tôi nghe được những lời cầu khấn,
tiếng hú tạo ra tiền, những danh tính để kêu cầu của các vị thần giúp
thay đổi vận mệnh, các thần linh báo oán, thần sang giàu, thần sức
khỏe, thần mở cửa tử cung. Chúng cũng làm tôi sợ đời sống. Chúng
cũng từ sự đói kém, bất hạnh của hoàn cảnh chúng tôi mà ra. Mẹ
dường như không để ý họ. Vẻ mặt bà nặng trĩu âu lo, mắt bà sáng lên,
tìm kiếm các góc đường, phía trước những nơi ăn chơi, hi vọng thấy
ba. Sau khi chúng tôi đi một hồi, và khi gió nâng tà áo choàng của mẹ