đã biến sự ngây thơ của loài vật tội nghiệp này thành một công cụ đáng
ngưỡng mộ để nuôi sống con người”.
Trong vài thập niên tiếp theo, chim ăng-ca lớn còn có những tác dụng
khác ngoài việc “nuôi sống” (Như một người chép biên niên sử đã nhận xét,
“chim ăng-ca lớn của đảo Funk bị khai thác theo mọi cách mà tài khéo léo
của con người có thể nghĩ ra”). Chim ăng-ca được dùng làm mồi câu cá, là
nguồn lông để nhồi nệm, và nhiên liệu. Những tường rào bằng đá được dựng
lên ở đảo Funk - vết tích của chúng ngày nay vẫn còn thấy - và những con
chim bị lùa cả đàn vào những chiếc chuồng nhốt đó tới khi có người đủ thời
gian tới làm thịt chúng. Hoặc không, theo một thủy thủ người Anh tên
Aaron Thomas, người đã tới Newfoundland trên chiếc HMS Boston:
Nếu bạn tới đây để lấy lông của chúng, bạn không phải bận lòng
giết chúng, mà cứ vồ lấy một con và nhổ những chiếc lông tốt
nhất. Sau đó bạn để con chim cánh cụt tội nghiệp lênh đênh trên
biển, với phần da để lộ và đám lông đã bị nhổ mất, và nó sẽ chết
dần chết mòn.
Trên đảo Funk không có cây, nên không có gì làm chất đốt. Điều này dẫn
tới một cách làm khác được Thomas ghi lại.
Bạn lấy một cái ấm rồi bỏ một hoặc hai con chim cánh cụt vào
đó, bạn đốt lửa phía dưới, và ngọn lửa này do chính những con
chim cánh cụt bất hạnh đốt nên. Cơ thể chúng ngập mỡ không lâu
sau đó sẽ làm ngọn lửa bùng lên.
Ước tính khi những người châu Âu lần đầu tới đảo Funk, họ đã tìm thấy
hàng trăm nghìn đôi chim ăng-ca lớn đang chăm sóc cho hàng trăm nghìn
quả trứng (Có lẽ chim ăng-ca lớn chỉ đẻ một trứng mỗi năm; trứng dài
khoảng năm inch và có chấm lốm đốm như tranh của Jackson Pollock [
],