phần thuộc thềm lục địa nay là phía đông Bắc Mỹ, vùng mà, bởi Đại Tây
Dương khi đó hẹp hơn nhiều, gần hơn nhiều với vùng nay là châu Âu.
Landman chỉ vào một điểm ở đáy con lạch cách mặt nước khoảng vài inch.
Ở đó, ông nói với tôi, là lớp iridium. Dù nhìn nó không có gì khác, Landman
biết đó là iridium vì ông đã phân tích chỗ này mấy năm trước. Landman có
dáng người chắc nịch, với khuôn mặt rộng và bộ râu xám. Ông ăn mặc theo
lối dã ngoại, quần soóc ka ki và giày đi bộ cũ. Ông lội vào con lạch để đi
cùng những người khác đang dùng cuốc chim bổ vào đáy con lạch. Không
lâu sau, một người tìm thấy một mẩu răng cá mập hóa thạch. Một người
khác đào lên được một mẩu cúc đá có kích thước bằng một trái dâu, và đầy
mấu hay các nốt sần. Landman xác định nó thuộc về loài Discoscaphites
iris.
***
Cúc đá trôi nổi trong các đại dương cạn của thế giới trong hơn 300 triệu
năm, và vỏ hóa thạch của chúng xuất hiện khắp thế giới. Pliny Già [
],
người đã thiệt mạng trong vụ phun trào núi lửa chôn vùi thành phố Pompeii,
biết rõ chúng, dù ông coi chúng là đá quý (Ông đã nhắc trong cuốn Lịch sử
tự nhiên của mình là những viên đá có thể mang tới những giấc mộng tiên
tri). Ở nước Anh thời Trung cổ, cúc đá được gọi là “xà thạch”, và ở Đức
chúng được sử dụng để chữa bệnh cho bò ốm. Ở Ấn Độ, chúng đã và ở một
mức độ nào đó vẫn đang được tôn kính như hiện thân của sức mạnh thần
Vishnu.
***
Giống như loài ốc anh vũ mà chúng có họ hàng xa, cúc đá tạo nên những
vỏ xoắn ốc được chia làm nhiều ngăn. Bản thân chúng chỉ cư ngụ ở ngăn
cuối cùng và lớn nhất của chiếc vỏ; phần còn lại để chỗ cho không khí, một
sự sắp xếp có thể được so sánh với một khu căn hộ chỉ cho thuê căn ở tầng
áp mái. Những bức tường giữa các ngăn, được gọi là “septa” [
], vô cùng
tinh vi, được gập lại thành các gợn sóng phức tạp, giống như cạnh của một
bông hoa tuyết (Từng loài riêng lẻ có thể được xác định bằng các hình mẫu
khác nhau của các vết gấp này). Sự phát triển mang tính tiến hóa này cho