hàng khắp cả khu trong ngày hôm đó, rồi đến tối thứ Sáu sẽ nghỉ lại tại nhà
người quen của Mary Carswell ở St. Clair… rồi đến thứ Bảy sẽ theo đường
Sông đi về nhà.”
“Lố bịch không để đâu cho hết,” bà Ruth nói. “Từ xưa đến nay, chẳng
người nhà Murray nào từng làm một chuyện như thế. Ta thật chẳng hiểu nổi
Elizabeth đấy. Rõ là chẳng đứng đắn chút nào khi hai cô bé như cháu và
Ilse một mình lang thang khắp thị trấn tận những ba ngày.”
“Theo bác thì chúng cháu có thể gặp chuyện gì mới được chứ?” Emily
hỏi.
“Có thể xảy ra đủ chuyện đấy,” bà Ruth nghiêm trang đáp.
Bà nói đúng. Đủ thứ chuyện có thể xảy ra, và đã xảy ra, trong chuyến
du hành đó; nhưng buổi chiều thứ Năm, cả Emily lẫn Ilse đều lên đường
trong tâm trạng hào hứng, hai cô nữ sinh lớ ngớ chỉ nhìn thấy cuộc đời toàn
một màu hồng và hạ quyết tâm sẽ vui vẻ ra trò. Emily đặc biệt cao hứng.
Hôm đó cô vừa nhận được thêm một bức mỏng trong hòm thư, trên góc in
địa chỉ của một tờ tạp chí tầm thường, thông báo gửi biếu cô ba kỳ của tờ
báo nói trên làm nhuận bút cho bài Vườn đêm, bài thơ được đặt làm phần
kết cho cuốn Sách làm vườn và vốn được cả cô lẫn ông Jimmy đánh giá là
viên ngọc quý của tập sách. Emily đã cất cuốn Sách làm vườn vào trong
chiếc tủ trên mặt lò sưởi ở phòng cô tại Trăng Non, nhưng cô đã chép lại
các “đoạn kết” trong đó định trong mùa thu sẽ lần lượt gửi tới một số tòa
soạn báo. Quả là điềm tốt khi ngay trong lần gửi đầu tiên, bài thơ đã nhanh
chóng được chấp nhận.
“Nào, ta đi thôi,” cô nói, “băng qua những rặng đồi đến chốn xa
xăm’… một câu nói xa xưa quá dễ xiêu lòng người! Ở phía sau những rặng
đời trước mặt chúng ta kia, có thể là bất cứ thứ gì.”