hơn việc của tôi, chân tôi bây giờ còn nhảy nhót gì nữa". Nghe thế,
Humphreys lâm bẩm gì đó rồi quay vào ngủ tiếp, bác sĩ bèn bảo các y tá
bệnh nhân chưa qua khỏi nguy hiểm. Khi anh đủ sức diễn đạt cho mọi
người hiểu ý mình, Humphreys nói rõ ra, mọi người hứa thực hiện ngay.
Anh lo lắng bồn chồn chờ kết quả. Sáng hôm sau, bác sĩ trông có vẻ nghĩ
ngợi, thấy rằng nói cho bệnh nhân biết thì có lợi hơn là gây hại, bảo "Vâng,
quả cầu đã được bổ ra rồi, lớp kim loại mỏng thôi, vừa nện nhát búa đầu
tiên nó tan thành từng mảnh ngay" "Ông nói tiếp đi" Humphreys sốt ruột
nói "À, ra anh muốn biết ở trong có gì. Một nửa nó chất đầy một thứ giống
như tro" "Tro? Ông làm gì với chỗ tro đó?" "Tôi chưa kịp xem kỹ vì chưa
có thời gian, nhưng ông Cooper đã xác định, tôi dám nói đó là tro hoả táng
người chết…Thôi ông đừng kích động thế, phải, tôi phải nói rằng ông
Cooper đã nói đúng đấy".
Mê cung không còn nữa, phu nhân Wardrop đã tha thứ cho
Humphreys, thực tế anh đã thành hôn với con gái bà. Bà nói đúng. Dưới
các tảng đá có đánh số, một số đã mờ, nhưng còn đủ trông rõ để
Humphreys sắp xếp theo trình tự thành một câu như sau:
PENETRANS AD INTERIORA MORTIS – LEN LỎI VÀO TỚI TẬN
XÁC CHẾT.
Mặc dù Humpheys rất biết ơn ông chú, nhưng anh không thể tha thứ
cho cụ về việc đã đốt hết nhật ký, thư từ của cụ cố James Wilson, người để
lại ngôi đền và mê cung cho chú anh. Cụ cố chết ra sao và được chôn cất
như thế nào, chẳng còn truyền tụng nào hết, nhưng trong di chúc của cụ
(chỉ còn mỗi thứ đó trong tay) còn lại một phần khá hào phóng cho người
đầy tớ mang cái tên Ý.
Quan điểm của ông Cooper là, về mặt nhân văn mà nói, tất cả những sự
kiện trang trọng trên đều có một ý nghĩa nào đó với chúng ta mà ta cứ làm
chúng tan hoang do đầu óc có hạn. Cụ Wilson vừa rồi còn nhớ lại một bà dì
– đã mất – vào năm 1866 có lạc một tiếng đồng hồ trong mê cung ở Covent
Gardens, nay có lẽ là Hampton Court.