HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN - Trang 19

19

CHƯƠNG 5

ÂM-DƯƠNG ỨNG TƯỢNG ðẠI LUẬN

(1)


KINH VĂN ________________________________________________________________________

Hoàng-ðế nói :
._

Âm-Dương là ñạo của Trời ñất

(2)

; là giềng mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa

(3)

, là gốc ngọn của sự

sinh-sái

(4)

, là cái kho chứa mọi sự THẦN MINH

(5)

.



(1)_. Thiên này nói về : Trời – ðất – Thủy – Hỏa , 4 mùa, 5 Hành, hàn nhiệt, khí, vị, hợp với Tạng-phủ của con người ; hình,

thân, thanh, trọc, thành tượng thành hình ..... ðều hợp với cái ñạo của Âm-dương. Cho ñến chân mạch, sát sắc, trị liệu,
châm biêm v.v..... ñều phải bắt chước ở Âm-dương ; nên gọi là “ỨNG TƯỢNG ðẠI LUẬN” .

(2)_. ðẠO : tức là cái lẽ của Âm-dương. Thái-cực “tĩnh” mà sinh Âm, “ñộng” mà sinh Dương. Trời sinh ra bởi ñộng, ñất sinh ra

bởi tĩnh, nên gọi ÂM-DƯƠNG là ñạo của Trời-ñất.

(3)_. Vật sinh ra gọi là “HÓA”, vật ñến cực gọi là “BIẾN”.

DỊCH nói : “

ở trời thành TƯỢNG , ở ñất thành HÌNH ; sự biến hóa phát hiện ở ñó”.

CHU-TỬ nói : “

biến là cái “TIỆM” của hóa, hóa là sự “THÀNH” của biến.,”

Âm có thể biến thành Dương, Dương có thể biến thành Âm ; cái ñạo biến hóa do âm-dương sinh ra, nên gọi là CHA-

MẸ.

(4)_. Trời lấy Dương ñể sinh ra, ðất lấy Âm ñể nuôi lớn. ðất lấy Dương ñể giảm ñi, Trời lấy Âm ñể tiềm tàng.
(5)_. Âm-dương biến hóa không thể lường ñược nên gọi là THẦN-MINH.

KINH VĂN ________________________________________________________________________

Trị bịnh phải tìm tới gốc

(1)

. Nên biết rằng : tích lũy nhiều Dương là Trời, tích lũy nhiều Âm là ñất

(2)

. Âm thời

tĩnh, Dương thời táo

(3)

; dương sinh ra, âm nuôi lớn, dương giảm ñi, âm tiềm tàng

(4)

. Dương hóa khí, âm thành

hình

(5)

; hàn cực sinh ra nhiệt, nhiệt cực sinh ra hàn

(6)

. khí hàn sinh ra chất trọc (ñục), khí nhiệt sinh ra chất

thanh (trong). Thanh-khí ở bộ phận dưới thời sinh chứng SÔN-TIẾT, trọc khí ở bộ phận trên thời sinh chứng ðIỀN-

TRƯỚNG (ñầy tức).

ðó là Âm-dương ở trong người do sự “nghịch, tòng” mà sinh bịnh vậy

(7)

.


(1)_. GỐC : tức là chỉ về Âm-dương . tạng, phủ, khí, huyết, biểu, lý, thượng, hạ, ở trong tấm thân con người, ñều gốc ở Âm-

dương ; cho tới cái khí phong , hàn, thử, thấp, 4 mùa, 5 hành ... do từ bên ngoài phạm vào, cũng ñều thuộc về 2 chữ Âm-
dương.

ðến như phương diện trị bịnh, lựa cái khí-vị của dược-vật, dùng “châm” bên tả hay hữu, xét mạch xem TRÌ hay TẬT, cũng
không thể ra ngoài cái lý của Âm-dương. Cho nên nói : “

trị bịnh phải cầu tới gốc...”.

Bịnh ñó thuộc Dương-tà hay Âm-tà ?

thuộc dương-phận hay âm-phận, khí-phận hay huyết-phận ?

Rồi nhân ñó ñể lựa chọn ñến dược vật, xem nên dùng những vị khí nó thăng hay giáng ? ẤM ñể bổ hay KHỔ ñể tiết ? ......
ðó, phương pháp cầu tới gốc là như vậy.

(2)_

.

TÍCH tức là “tích-lũy”, chứa chất rất nhiều. Rất cao là Trời, rất dày là ðất. Tiếp theo câu trên, nói việc trị bịnh nên bắt

chước cái Âm-dương của Trời-ñất.

(3)_. Chất âm của ñất chủ TĨNH mà có thường, khí Dương của trời chủ ðỘNG mà không ngừng ...
(4)_. Mùa Xuân với mùa Hạ là 2 khí Âm-dương của Trời, cho nên chủ về SINH và TRƯỞNG ; mùa Thu với mùa ðông là 2 khí

Âm-dương của ðất, cho nên chủ về SÁI và TÀNG.

(5)_. Trời chủ về sinh ra vật, ðất chủ về gây thành vật. cho nên Dương hóa cái khí của muôn vật, mà cái khí ở trong thân người

cũng do Dương hóa ra. Âm thành cái hình của muôn vật, mà cái hình của con người cũng do Âm gây nên.

(6)_. Âm hàn Dương nhiệt là cái khí chính của Âm-dương. Hàn cực sinh nhiệt, là Âm biến làm Dương ; nhiệt cực sinh hàn là

Dương biến làm Âm.

_ THIỆU-TỬ nói : “

Lúc bắt ñầu ñộng thời Dương sinh, ñộng ñến cực ñộ thời Âm sinh ; Lúc bắt ñầu tĩnh thời “NHU” sinh, tĩnh

ñến cực ñộ thời “CƯƠNG” sinh ; ñó tức là cái nghĩa “Lão biến mà Thiếu không biến” ở CHU-DỊCH. ” _.

Cho nên cái lý Âm-

dương hể ñến cực ñộ thời sinh biến. Tật bịnh ở con người cũng vậy. Như nhiệt quá thời sinh hàn : như những chứng NỘI
NHIỆT quá ñến cực ñộ, thời bên ngoài hiện ra rét run. Hàn quá lại nhiệt : như bịnh THƯƠNG HÀN mà phát nhiệt. Về phép trị
bịnh cũng vậy, như người uống quá nhiều những vị khổ hàn rồi biến thành hỏa-nhiệt.

(7)_. Hàn khí ñọng xuống dưới, nên sinh ra trọc Âm. Nhiệt khí thượng thăng, nên sinh ra thanh Dương. Thanh khí chủ về Dương

nên ở trên ; giờ lại ở dưới nên sinh chứng SÔN-TIẾT (ăn vào lại tả ra), bởi vì chỉ giáng mà không thăng. Trọc khí chủ về Âm
nên ở dưới, giờ lại ở trên nên sinh chứng ðIỀN-TRƯỚNG, bởi vì chỉ có thăng mà không giáng. ðó là âm-dương tương phản
mà sinh bịnh ; như thế tức là “NGHỊCH” , nếu trái lại sẽ là “TÒNG”. Cho nên nói : “

trị bịnh phải cần tới cái gốc” ,

chính là vì

tấm thân con người “

hữu bịnh hay vô bịnh”

ñều do Âm-dương nghịch tòng mà ra vậy.

Án : từ câu Dương hóa khí…. Trở xuống, ñều ñem âm-dương của Trời ñất hợp với âm-dương trong tấm thân con người ñể
tỉ-lệ, không chuyên nói hẳn một bên nào.