Giục ngựa phi nhanh về tới Sơn trại trời cũng vừa hửng sáng, gặp lại
Huệ người anh mừng rõ reo lên: “Em hóa trang tuyệt vời quá! Cả khối
người chẳng ai nhận ra ông tiên phàm tục này đâu. Chắc chắn nguồn thông
tin ấy nhanh chóng loantruyền đi khắp nơi, ta phải chớp lấy thời cơ ra quân
là đúng lúc!”. Hai anh em bàn nhanh, rồi tin đến các cơ quan, doanh trại
khẩn trương chuẩn bị. Đồng thời cử người đi thông tin cho đồng bào hai
miền xuôi ngược ở gần căn cứ đều biết. Nhân dân Tây nguyên Kinh-
Thượng một lòng phấn khởi gọi bảo nhau đến dự lễ ra quân đông đúc, trang
nghiêm.
***
Một buổi sang mùa xuân năm 1773, cánh cửa căn cứ Tây Sơn ở phía
đông rộng mở, vừng dương vừa vươn lên khỏi đỉnh đồi đã khoe sắc thắm,
duyên dáng đẩy đưa trên ngọn cây cành lá, chào đón đồng bào hai miền
xuôi ngược, Kinh- Thượng một lòng hội đến căn cứ Tây Sơn thượng làm lễ
tế cờ, chính thưc động binh được tổ chức trang nghiêm long trọng.
Nguyễn Huệ đứng trên kỳ đài, dưới lá cờ đại hình chữ nhật đang tung
bay phất phới, bên cạnh cái trống đại sơn màu đỏ thắm cũng ngự trên giá
đợi chờ, trước từng đạo quân được xếp thành những hàng dọc san sát với
những bản làng hương xã để điều đứng theo hàng ngũ. Nhìn tổng thể, anh
có cảm tưởng không phân biệt được cánh ta cánh hữu, bên trọng bên khinh.
Bởi lẽ, từ nhân dân hai miền xuôi ngược, đến nam nữ nghĩa binh và cả
Tướng Soái cũng không có sự đồng phục nào. Ai thích áo quần màu sắc
kiểu may hay trang phục gì thì dùng nấy, phần đông đi chân đất, đội nón,
đội áo khăn…Muốn phân biệt nhân dân với nghĩa binh thì nhìn vào đội ngũ
chỉnh tề, trang bị vũ khí gọn nhẹ: một ít gươm đao cán dài, còn lại hầu hết
là đoãn côn, nữ mặc váy lửng gọn gàng kín đáo dễ bề duy chuyển và vượt
hiểm. Khi đã ổn định tổ chức, Nguyễn Huệ hướng mắt theo màu cờ đỏ
đang vẩy gọi trên không trung, giọng hùng tráng của anh trở nên sang sảng
giục gọi mọi người: