điều đó có nghĩa là MTO, nhân danh Salomon, đã tự nguyện hành
động như cánh tay mặt của chính phủ.
Obermaier quả là “đa nghi”, Olson nói. “Ông ta nghĩ rằng chúng
tôi là một nhóm trần truồng đến từ vùng Trung Tây và bán cho
ông ta một mớ những thứ xằng bậy nào đó.”
Ông ta không thể
tưởng tượng được rằng có một công ty nào đó tình nguyện thực hiện
các cuộc điều tra chống lại chính lợi ích của mình. Sau cùng,
Salomon không phải đối mặt với hiểm họa sắp sửa xảy ra về một
phán quyết “có tội”. Họ có vài tháng để chứng minh sự “vô tội” của
mình. Rõ ràng, đây là một lời hứa đãi bôi hơn là một cam kết “cải
tổ”.
Sau đó Olson bay đi Washington và nói với Breeden của SEC –
người cũng “nghi ngờ không kém” – những điều tương tự.
Đầu tiên, việc bác bỏ đặc quyền chưa rõ có nghĩa là gì. Frank
Barron, một luật sư của Cravath, Swaine & Moore, một trong các
công ty luật khác của Salomon, được cử làm trung gian giải thích món
quà khác thường này có nghĩa là gì đối với Bộ Tư pháp Mỹ. Thương
lượng các điều khoản là rất khó khăn vì cam kết đã được định
xong. Salomon có chút ít lực đòn bẩy. Bộ Tư pháp nhấn mạnh về
một sự diễn giải rộng rãi của cam kết để rộng đường dư luận.
Thỏa thuận đã đặt công ty vào một tình thế dở khóc dở cười trong
việc cáo buộc các nhân viên của mình. Càng có nhiều chứng cứ MTO
thu thập được cho thấy nhân viên của Salomon có tội, Salomon càng
chứng minh được rằng họ đang hợp tác cao độ và quyết tâm sửa đổi
chính mình. Trong khi đó, các nhân viên cũng phải hợp tác tốt,
nếu không sẽ bị sa thải. Lời khai của họ trước các nhà điều tra
không được bảo vệ bởi quyền được bảo vệ bí mật của những thông
tin đã trao đổi với luật sư (attorney-client privilege).