1328
200. CÁI CHẾT CỦA BỐN ÔNG SƯ
Xưa có một người làm nghề kiếm mật ong và sáp nuôi thân. Hàng ngày ông ta
ñeo trên lưng một chiếc gùi
1
, tay cầm cán có buộc bùi nhùi và giẻ ñi vào rừng
tìm tổ ong. Một hôm ñang ñi trên một con ñường vắng, ông bỗng nghe ong kêu
vù vù, ngẩng nhìn lên thì thấy một tổ ong mật. Mừng quá, bèn như thường lệ,
ông ñốt bùi nhùi rồi trèo lên cây ñuổi ong ñi ñể gỡ lấy sáp và mật. Nhưng tổ ong
hôm ấy lớn quá, ông thu ñược một gùi ñầy ắp nên không thể xuống ñược, vì cây
vốn ñã khó trèo, lại sợ không khéo ñổ hết mật thì uổng. Đành phải ngồi lại ở một
cành chẽ ba, ñợi có người ñi qua nhờ họ giúp cho xuống. Đợi ñến trưa, ông bỗng
nhác thấy bóng một con voi sắp sửa ñi tới, trên ñầu có một thằng nài. Người
kiếm mật mừng quá, bèn nói lớn:
- Anh nài ơi anh nài! Vì tôi lấy ñược nhiều mật và sáp mà cây lại khó xuống,
anh hãy làm ơn ñỡ tôi một tí, tôi sẽ chia cho một nửa về mà dùng.
Từ xa, anh nài ñã nhìn thấy thế cheo leo của người kiếm mật, liền nghĩ ngay
một cách giúp bèn ñáp:
- Ông hãy leo nhanh ra phía ngoài nhánh cây, hai tay nắm lấy nhánh rồi buông
thõng chân xuống, tôi ñứng ở lưng voi, tôi sẽ ñỡ ông. Mau lên!
Nói ñoạn anh nài bèn ñứng dậy chuẩn bị tư thế chờ voi ñến nơi ñể kịp thời ñỡ
người kiếm mật. Nhưng khi hai tay anh nài nắm lấy hai chân người kiếm mật,
thì con voi tưởng là giục nó ñi nhanh, bèn cứ thẳng ñường rảo bước. Thành thử
nài ta hổng chân, ñã không ñỡ ñược người kiếm mật mà lại ñu người vào chân
ông ta. Về phía người kiếm mật ñã ñeo một gùi nặng sau lưng lại ñeo thêm một
khối nặng ở dưới chân, bên càu nhàu:
- Ối! Anh hãy buông tôi ra mau, không có nhánh cây mà gãy, cả hai rơi xuống
gãy cổ chết hết bây giờ.
Nài ta cũng nổi xung nhưng nén giận, nói:
- Buông sao ñược! Buông thì què mất còn gì. Tôi không ngờ vì ông mà phải
thế này. Thôi ông hãy níu cho chắc ñừng có buông mà chết cả ñôi.
Thế là cả hai rên rỉ trên cây cao, riêng nài ta vẫn bám chặt vào hai chân người
kiếm mật.
May sao, chỉ chừng giập bã trầu, bỗng có bốn ông sư ñi làm ñám về qua ñó.
Thấy họ, hai người mừng rỡ như gặp cứu tinh, bèn nói chõ xuống:
1
Gùi: ñồ ñựng của người miền núi ñan bằng tre có dây ñeo vai khi ñi ñường như kiểu mang
"xắc" ngày nay.