990
Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu ñào một cái hố sâu và ñun một nồi
nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám
chết, Tấm sai ñem xác làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của
con gái mụ gửi biếu. Mẹ con Cám tưởng thật lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức
nở khen ngon. Một con quạ ở ñâu bay ñến ñậu trên nóc nhà kêu rằng:
- Ngon ngỏn ngòn ngon! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng?
Mẹ con Cám giận lắm, chửi mắng ầm ĩ rồi vác sào ñuổi quạ. Nhưng ñến ngày
mắm gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy ñầu lâu của con thì lăn ñùng ra chết
1
.
KHẢO DỊ
Truyện trên do người miền Bắc kể, trong ñó có vài chi tiết mỗi nơi một khác.
Ví dụ câu nói của vàng anh với Cám khi Cám giặt áo cho vua, người Nghệ-an có
nơi kể là:
- Giặt áo chồng tao, thì giặt cho sạch, nhược bằng không sạch, tao rạch mặt ra.
- Phơi áo chồng tao, thì phơi bằng sào, ñừng phơi bờ rào, tao cào mặt ra
2
.
Hay là câu của quạ:
- Ngon ngỏn ngòn ngon, ăn cả thịt con, thực ngon lắm phỏng
3
.
Riêng ở vùng Bắc-ninh, thì truyện Tấm Cám ñược truyền tụng như là lịch sử
Thái phi Ỷ Lan. Quyển Lý triều ñệ tam hoàng hậu sự tích ñã chép truyện bà Ỷ
Lan gắn liền với nhân vật Tấm (khác với truyện trên, ở ñây gọi ngược lại Tấm là
Cám và Cám là Tấm. Ỷ Lan thái phi là Cám) và tước bỏ ñi nhiều chi tiết của
truyện dân gian:
Ở làng Thổ-lỗi (hay Siêu-loại) huyện Gia-lâm có ông Lê Công Thiết và vợ là
Vũ Thị Tỉnh chuyên trồng dây nuôi tằm. Một ñêm vợ nằm chiêm bao thấy mình
nuốt mặt trăng, sau ñó sinh một cô gái tên là Cám (hoặc Khiết Nương). Vợ chết,
chồng lấy vợ kế là Chu Thị, sinh một gái khác là Tấm. Thế rồi, câu chuyện cũng
diễn ra với ñủ các tình tiết bắt cá, nuôi bống và nhặt xương bống chôn chân
giường ñúng như truyện trên vừa kể, chỉ có khác ở chỗ Bụt lại là nhà sư Đại
Liên, tu ở chùa Linh-nhân. Và ñiều khác thứ hai ñáng lưu ý là xương bống chôn
một trăm ngày ñào lên ñược một ñôi hài quý, nhưng khi Cám phơi ñôi hài, thì
một con quạ thần trông thấy, cắp lấy một chiếc bay ñến kinh ñô rồi thả xuống
1
Dựa theo Đỗ Thận. Một truyện kể An-nam về cổ tích Tro bếp, BEFEO, tập VII, q. 1-2
(1907), và lời kể của người miền Bắc.
2
Theo bản khai của xã Hoàng-tràng.
3
Theo Loại cổ tích hay, ñã dẫn.