Bản thân Locke là một người giàu có, với nhiều khoản đầu tư vào việc buôn
bán tơ lụa và nô lệ, các khoản thu nhập từ hoạt động cho vay và cầm cố.
ông ta đã đầu tư mạnh tay vào lần phát hành cổ phiếu đầu tiên ra công
chúng của Ngân hàng Anh, chỉ vài năm sau khi viết cuốn Khảo luận thứ hai
về chính quyền như một tuyên bố giai cấp về nền dân chủ tự do. Dưới
cương vị cố vấn cho Carolinas, ông ta đã đề xuất rằng chính phủ của các
chủ nô lệ cần phải do các nam tước nhiều đất đai điều hành.
Tuyên bố của Locke về chính quyền của nhân dân được hậu thuẫn từ cuộc
cách mạng tại Anh – một cuộc cách mạng vì sự phát triển tự do của chủ
nghĩa tư bản trọng thương trong nước và nước ngoài. Bản thân Locke tiếc
rằng, lao động trẻ em nghèo “nhìn chung là một tổn thất đối với công
chúng, tới khi chúng 12 hay 14 tuổi”. Điều này cho thấy tất cả trẻ em trên
ba tuổi, là con cái của những gia đình sống bằng cứu trợ, cần được đưa vào
các “trường học lao động”, để “ngay từ bé, chúng đã… làm quen với lao
động”.
Các cuộc cách mạng tại Anh vào thế kỷ XVII đã cho ra đời chính phủ đại
diện và mở ra các cuộc thảo luận về dân chủ. Nhưng, như nhà sử học người
Anh Christopher Hill đã viết trong The Puritan Revolution (Cuộc cách
mạng của Thanh giáo): “Việc thiết lập uy quyền tối cao của Quốc hội và
nền pháp trị rõ ràng chỉ đem lại lợi ích cho những người có tài sản.” Các
loại thuế có thể đe dọa sự an toàn tài sản đều bị bãi bỏ, các chính sách độc
quyền tạo thêm nhiều uy quyền tự do cho việc buôn bán và quyền lực hàng
hải được sử dụng như một chính sách đế quốc tại nước ngoài, bao gồm cả
việc xâm lược Ailen. Phong trào san bằng (Levellers) và Phong trào đào sâu
(Diggers), hai phong trào chính trị mong muốn mang lại sự công bằng trong
các lãnh địa kinh tế, đã bị cuộc cách mạng giải tán.
Người ta có thể thấy thực tế của những lời lẽ đẹp đẽ mà Locke đã nói về
chính phủ đại diện trong sự phân chia và xung đột giai cấp tại Anh, tiếp sau