chú ý trong việc cân nhắc bất cứ một quyền lợi nào về mặt chính trị, hoặc
một ý niệm về sự công bằng quyền công dân.
Dù bằng chính ngôn ngữ của văn bản, nếu nói rằng Tuyên ngôn Độc lập chỉ
giới hạn ở quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc cho những người
đàn ông da trắng, thì không có nghĩa là lên án những người đã soạn thảo và
đặt bút ký bản Tuyên ngôn này chỉ để tâm đến nguyện vọng của những
người đàn ông da trắng ở thế kỷ XVIII. Các nhà cải cách, cũng như các
thành viên cấp tiến, vốn vẫn xem xét lại lịch sử một cách bất bình, thường
bị lên án là mong đợi quá nhiều từ kỷ nguyên chính trị trong quá khứ.
Nhưng việc chỉ ra điều này chỉ muốn khẳng định là các vấn đề về nhân
quyền trong bản Tuyên ngôn, thậm chí hàng thế kỷ sau, vẫn chưa đặt ra
những gánh nặng về mặt đạo đức không thể thực hiện được tại thời điểm
đó. Ngoài ra cũng là để tìm hiểu bản Tuyên ngôn đã có chức năng gì trong
việc khuyến khích một số nhóm người tại Mỹ, trong khi lại lờ đi một số
nhóm khác. Chắc chắn, thứ ngôn ngữ truyền cảm hứng nhằm tạo ra một sự
đồng thuận vẫn được sử dụng trong thời đại của chúng ta, để che giấu
những xung đột sâu sắc về mặt lợi ích trong sự đồng thuận đó, cũng như
che giấu sự quên lãng phần lớn nhân loại.
Tính triết học của bản Tuyên ngôn − chính phủ được nhân dân thành lập
nhằm bảo đảm quyền sống, tự do và hạnh phúc cho họ, và sẽ bị loại bỏ nếu
không thực hiện được điều đó − thường thể hiện trong các ý tưởng của John
Locke, với tác phẩm Second Treatise on Government (Khảo luận thứ hai về
chính quyền). Cuốn sách này được xuất bản tại Anh năm 1689, khi người
Anh nổi dậy chống lại các vị vua bạo ngược và lập nên chính phủ nghị viện.
Bản Tuyên ngôn, cũng như cuốn Khảo luận thứ hai về chính quyền của
Locke, đều đề cập đến chính quyền và các quyền chính trị, nhưng lại lờ đi
những bất công về mặt tài sản. Làm thế nào người dân có thể được hưởng
các quyền bình đẳng, trong khi hoàn toàn khác nhau về sở hữu tài sản?