được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân; rằng
bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này,
nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một
chính quyền mới…
Tiếp đó, Tuyên ngôn liệt kê hàng loạt những lời than phiền chống lại Vua
nước Anh: “Lịch sử của những nỗi đau thương và sự tước đoạt triền miên,
tất cả đều nhằm mục đích trực tiếp là thiết lập ách chuyên chế bạo ngược ở
những bang này”. Danh sách này kết tội nhà vua đã giải tán các chính phủ
thuộc địa, kiểm soát các tòa án, “bổ nhiệm vào đó vô số những quan chức
mới để sách nhiễu dân chúng”, cho phép đông đảo những đội quân có vũ
trang đồn trú, cắt đứt những quan hệ thương mại giữa các thuộc địa với các
khu vực khác trên thế giới, đặt các khoản thuế khóa mà không được những
người khai phá thuộc địa đồng ý, rồi tiến hành cuộc chiến tranh chống lại
họ, “đưa sang những đội quân lớn gồm các lính đánh thuê nước ngoài để
thực thi các công việc giết chóc, tàn phá và bạo ngược”.
Tất cả những từ ngữ như kiểm soát chung đối với các chính phủ, quyền
được nổi loạn và làm cách mạng, sự phẫn nộ về bạo chúa chính trị, các gánh
nặng về kinh tế đều là những từ ngữ rất phù hợp để đoàn kết đại đa số
những người khai phá thuộc địa, thậm chí thuyết phục được cả những người
vốn thường bất bình với nhau chuyển sang chống lại nước Anh.
Một số người Mỹ rõ ràng đã bị loại ra khỏi quỹ đạo các lợi ích thống nhất
được liệt kê trong Tuyên ngôn Độc lập này: đó là những người Anh-điêng,
nô lệ da đen, phụ nữ. Trên thực tế, một đoạn trong Tuyên ngôn đã kết tội
Vua nước Anh là kích động những cuộc nổi loạn của nô lệ và những cuộc
tấn công của người Anh-điêng:
ông ta đã kích động những cuộc phiến loạn trong nội bộ chúng ta và cố
công đưa vào vùng dân cư ở các miền biên cương nước ta sự man rợ tàn