bạo kiểu Anh-điêng, mà các hình thức chiến trận khét tiếng của nó là sự hủy
diệt không phân biệt lứa tuổi, giới tính và điều kiện sinh sống.
Hai mươi năm trước khi Tuyên ngôn ra đời, bản tuyên ngôn của cơ quan lập
pháp Massachusetts ngày 3 tháng 11 năm 1755 đã tuyên bố rằng những
người Anh-điêng ở Penobseot là “những kẻ nổi loạn, kẻ thù và những tên
phản bội”; và đưa ra một khoản tiền thưởng: “Mỗi miếng da đầu của một gã
đàn ông Anh-điêng mang về sẽ được… thưởng 40 bảng. Một miếng da đầu
của bất cứ nam hoặc nữ Anh-điêng dưới hai mươi tuổi bị giết… được
thưởng 20 bảng…”
Trong Tuyên ngôn, Thomas Jefferson đã viết một đoạn lên án Vua nước
Anh cho phép vận chuyển nô lệ da đen từ châu Phi đến các vùng thuộc địa
và “ngăn chặn mọi nỗ lực pháp lý nhằm cấm hoặc cản trở việc buôn bán bỉ
ổi này”. Điều này thể hiện sự căm phẫn về mặt đạo đức đối với chế độ nô lệ
và việc buôn bán nô lệ (thái độ lên án của Jefferson đối với chế độ nô lệ cần
phải được đặt song song với thực tế là ông ta sở hữu đến hàng trăm nô lệ
cho đến ngày qua đời). Đằng sau vấn đề này là nỗi lo sợ ngày càng gia tăng
của người dân Virginia và một số người miền Nam về người da đen tại các
thuộc địa (chiếm tới 20% dân số) và mối đe dọa từ các cuộc nổi dậy của nô
lệ khi số lượng những người này ngày càng tăng. Đoạn văn đó đã bị Quốc
hội Lục địa gạt đi, bởi vì giới chủ nô lệ không đồng ý với nguyện vọng
chấm dứt việc buôn bán nô lệ. Do đó, cử chỉ bày tỏ thiện chí đối với nô lệ
da đen đã bị bỏ qua trong bản tuyên ngôn vĩ đại về tự do của cuộc Cách
mạng Mỹ.
Việc sử dụng cụm từ “mọi người sinh ra đều bình đẳng” có lẽ không phải là
một nỗ lực có chủ ý nhằm đưa ra một tuyên bố về phụ nữ. Nó chỉ thuần túy
là phụ nữ không được nhìn nhận và hoàn toàn vô hình về mặt chính trị. Dù
những người phụ nữ đã được dành cho một số quyền nhất định ở trong nhà,
ngoài cánh đồng, hoặc trong một số nghề như bà đỡ; song họ không được