người Anh-điêng muốn nhượng lại các vùng đất đó, họ nên nhượng lại cho
Hoa Kỳ trước tiên.
Jennings đặt người Anh-điêng vào trung tâm cuộc Cách mạng Mỹ; đất đai
của thổ dân da đỏ là thứ mà mọi người đang chiến đấu giành giật. Vì thế,
Jennings coi cuộc cách mạng là “một khối khổng lồ những kẻ bị áp bức, bị
bóc lột và cùng bóc lột lẫn nhau”. Giới quý tộc kiểm soát đất đai vùng ven
biển, người nghèo tìm kiếm đất, bị đẩy xuống phía Tây. Như vậy đã có một
bức tường thành hữu hiệu được dựng cho giới giàu có, bởi như Jennings
nói, “mục tiêu trước hết của các cuộc chiến tranh mà người Anh-điêng tiến
hành là cái đầu người vùng biên giới”.
Tình trạng của nô lệ da đen do cuộc Cách mạng Mỹ gây ra phức tạp hơn
thế. Hàng nghìn người da đen đã chiến đấu chống lại người Anh, năm nghìn
người trở thành chiến binh cách mạng, trong đó hầu hết là từ phương Bắc,
một số người da đen tự do đến từ Virginia và Maryland, còn người vùng hạ
Nam không hào hứng lắm với những người da đen vũ trang. Giữa bối cảnh
khẩn cấp và hỗn loạn của cuộc chiến, hàng nghìn người đã giành lấy tự do
cho mình bằng cách rời bỏ tàu Anh khi kết thúc cuộc chiến để định cư tại
Anh, Nova Scotia, Tây Ấn hay châu Phi. Nhiều người trong số đó ở lại Mỹ,
trở thành người da đen tự do sống lẩn tránh chủ của họ.
Ở các bang miền Bắc, các yếu tố khiến người da đen tham gia quân đội –
người nô lệ thiếu các nhu cầu vật chất và tinh thần của cuộc cách mạng − đã
giúp chấm dứt chế độ nô lệ, tuy tiến trình còn chậm. Vào cuối năm 1810, 30
nghìn người da đen, chiếm một phần tư dân số da đen ở phía Bắc, vẫn còn
là nô lệ. Đến năm 1840, chỉ còn một nghìn nô lệ ở phương Bắc. Ở vùng
thượng Bắc, ngày càng có nhiều người da đen tự do nên có nhiều luật kiểm
soát hơn. Ở vùng hạ Nam, chế độ nô lệ vẫn mở rộng cùng với sự phát triển
các đồn điền trồng lúa và trồng bông.