Banneker đề nghị Jefferson “từ bỏ những định kiến hẹp hòi đã bị nhiễm”.
Jefferson đã dốc hết sức mình một cách thận trọng, với sức mạnh cá nhân
được giải thoát khỏi những định kiến đó. Tuy nhiên, những yếu tố như cấu
trúc xã hội Mỹ, quyền lực của giới chủ đồn điền trồng bông, buôn bán nô lệ,
sự cấu kết chính trị giữa giới quý tộc ở hai miền Bắc Nam và nền văn hóa
lâu đời về định kiến chủng tộc ở các thuộc địa, cũng như sự yếu kém của
chính thứ văn hóa đó, đã khiến Jefferrson suốt đời vẫn là một ông chủ nô lệ.
Vị trí thấp kém của người da đen, người Anh-điêng bị loại khỏi xã hội mới,
ưu thế tối thượng của giới quý tộc giàu có và đầy quyền lực hình thành ở
quốc gia mới… ‒ tất cả những yếu tố này đã được thiết lập ở thuộc địa thời
Cách mạng. Khi người Anh đã đi khỏi, điều này có thể được đưa thành văn
bản, được củng cố, ban hành thành luật và thực thi bởi Hiến pháp Hoa Kỳ,
do chính những lãnh đạo cách mạng ở Philadelphia dự thảo.
Năm tháng qua đi, đối với nhiều người Mỹ, Hiến pháp năm 1787 dường
như là công việc sáng tạo thiên tài cho những con người giàu trí tuệ và lòng
nhân ái soạn thảo, họ đã tạo khuôn khổ pháp lý cho dân chủ và bình đẳng.
Quan điểm này được nhà sử học George Bancroft chứng minh, có thể là hơi
thái quá, vào đầu thế kỷ XIX:
Hiến pháp không tạo ra được những gì có thể can thiệp vào sự bình đẳng và
quyền cá nhân. Văn bản này không đề cập gì tới sự khác biệt giữa các thế
hệ, quan điểm của các tầng lớp, giai cấp, tôn giáo hợp pháp, hoặc quyền lực
chính trị của tài sản. Nó đặt các cá nhân bên cạnh cá nhân… Giống như
biển được hình thành từ những giọt nước, xã hội Mỹ cũng được tạo nên từ
những cá nhân, những nguyên tử riêng rẽ, tự do, luôn luôn vận động và tác
động tương hỗ… Vì thế luật pháp và thể chế của quốc gia phát triển từ
nhiều ý tưởng cá nhân, giống như nước ở đại dương, luôn vận động không
ngừng.