cưỡng bức di cư về phía tây. Nhưng bản thân từ “cưỡng bức” không thể
chuyển tải được những gì đã diễn ra trên thực tế.
Trong cuộc chiến tranh Cách mạng Mỹ, hầu hết những nhân vật quan trọng
của người Anh-điêng đều kề vai sát cánh với người Anh. Người Anh đã ký
hòa ước và quay về nước; người Anh-điêng ở lại trên mảnh đất của họ và
tiếp tục chiến đấu chống lại người Mỹ, trong một loạt chiến dịch cầm cự
quyết liệt. Lực lượng quân sự của Washington vốn đã hao binh tổn tướng
qua cuộc chiến vẫn không thể nào đánh bật được người Anh-điêng. Sau khi
các đội quân tiên phong lần lượt bị tiêu diệt, Washington cố gắng theo đuổi
một giải pháp hòa giải. Henry Knox, Bộ trưởng Chiến tranh của
Washington, nói: “Những người Anh–điêng đã có mặt ở đây từ trước có
quyền sở hữu đất đai.” Năm 1791, Thomas Jefferson, Ngoại trưởng của
Washington, tuyên bố những địa điểm mà người Anh-điêng đang sinh sống
trong vùng ranh giới các bang sẽ không bị gây cản trở và chính phủ cần
phải tống cổ những người định cư da trắng có ý định xâm lấn địa bàn của
người Anh-điêng.
Nhưng do người da trắng tiếp tục tiến về phía tây, áp lực lên chính phủ quốc
gia càng gia tăng. Khi Jefferson trở thành Tổng thống vào năm 1800, ở phía
tây dãy núi đã có khoảng 700 nghìn người định cư da trắng. Họ tiến vào
Indiana, Illinois ở miền Bắc, vào Alabama và Mississippi ở miền Nam. Số
người da trắng nhiều hơn người Anh-điêng, với tỷ lệ khoảng 8/1. Lúc đó
Jefferson đã giao cho Chính phủ Liên bang xúc tiến việc tách người Creek
và Cherokee khỏi bang Georgia. Các hoạt động xâm lược đối với người thổ
dân da đỏ tăng lên tại lãnh thổ Indiana, dưới quyền cai trị của Thống đốc
William Henry Harrison.
Khi Jefferson tăng gấp đôi diện tích của nước Mỹ thông qua việc mua vùng
Louisiana từ tay người Pháp vào năm 1803 – nhờ đó mở rộng vùng biên
giới miền tây từ Appalachians băng qua Mississippi đến tận vùng núi