9. CHẾ ĐỘ NÔ LỆ MÀ KHÔNG PHỤC TÙNG, GIẢI
PHÓNG MÀ KHÔNG TỰ DO
Sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ đối với chế độ nô lệ xuất phát từ thực tế
không thể đảo ngược. Từ năm 1790, mỗi năm miền Nam đã sản xuất được
một nghìn tấn bông. Đến năm 1860, con số này lên tới một triệu tấn. Cũng
trong khoảng thời gian đó, 500 nghìn nô lệ đã tăng lên thành con số 4 triệu.
Một hệ thống nhằm ngăn chặn sự nổi dậy và các âm mưu của nô lệ đã được
thiết lập ở các bang miền Nam; đó là một mạng lưới kiểm soát được hậu
thuẫn từ hệ thống luật pháp, tòa án, quân đội cùng những thành kiến về
chủng tộc của các lãnh đạo chính trị nước Mỹ.
Phải có một cuộc nổi dậy hoặc một cuộc chiến tranh toàn diện mới có thể
chấm dứt thứ hệ thống đã được bắt rễ chặt như thế. Nếu là cuộc nổi dậy,
ngay lập tức nó sẽ biến sự tàn bạo vượt qua chế độ nô lệ, chuyển thành một
hệ thống tư bản thành công nhất trên thế giới. Nếu là cuộc chiến tranh,
những người tạo ra cuộc chiến sẽ phải giải quyết các hậu quả. Do đó,
Abraham Lincoln là người đã giải phóng chế độ nô lệ, chứ không phải là
John Brown . Năm 1859, John Brown bị treo cổ, với sự đồng lõa của cả liên
bang, do đã cố gắng tạo ra một bạo lực trên quy mô nhỏ, điều mà Lincoln
vài năm sau đã thực hiện trên một quy mô lớn hơn nhiều – đó là chấm dứt
chế độ nô lệ.
Với việc bãi bỏ chế độ nô lệ bằng mệnh lệnh của chính phủ – đúng là đã trở
thành sự thật, do chính phủ bị thôi thúc phải thực hiện điều đó, từ phía
người da đen tự do hoặc nô lệ, và những người da trắng theo chủ nghĩa bãi
nô – kết cục có thể cũng được sắp đặt để hạn chế con đường đến với giải
phóng. Sự giải phóng ở cấp độ cao nhất chỉ đạt được chừng nào lợi ích của
các nhóm chi phối cho phép. Nếu như mọi chuyện vẫn tiếp diễn với cái đà
của một cuộc chiến tranh, lối hùng biện của một cuộc thập từ chinh, tình
hình sẽ trở lại vị trí an toàn hơn. Như vậy, trong khi việc chấm dứt chế độ