chỗ làm cao có thể giúp người ta được gặp gỡ những người khác cùng cảnh
ngộ. ông cho rằng cuộc đấu tranh của các công nhân châu âu vì dân chủ
chính trị, thậm chí cả khi họ đang cố gắng tìm kiếm những cải thiện về kinh
tế, đã giúp họ có những nhận thức về giai cấp. Tuy nhiên, công nhân Mỹ đã
giành được dân chủ về mặt chính trị vào những năm 1830, do đó các cuộc
đấu tranh kinh tế của họ có thể đã bị các đảng phái chính trị làm mờ đi ranh
giới giai cấp.
Dawley cho rằng, điều đó có thể không ngăn cản được tính chiến đấu và sự
nhận thức về giai cấp ngày càng gia tăng, nếu như không phải vì thực tế là
“cả một thế hệ đã bị xếp sang một bên vào những năm 1860 vì cuộc Nội
chiến”. Những người miền Bắc làm công ăn lương vốn vận động ủng hộ sự
nghiệp của Liên bang đã trở thành đồng minh của giới chủ của họ. Các vấn
đề quốc gia đã trùm hết lên các vấn đề giai cấp: “Tại thời điểm khi rất nhiều
cộng đồng công nghiệp như ở vùng Lynn trở nên sục sôi với phong trào đấu
tranh chống lại trào lưu công nghiệp hóa, thì các đảng phái chính trị trong
nước đang hết sức bận rộn với các vấn đề chiến tranh và tái thiết.” Và trong
những vấn đề này, các đảng phái chính trị giữ vai trò chính, đưa ra các lựa
chọn, che đậy một thực tế rằng bản thân hệ thống chính trị và các tầng lớp
giàu có phải chịu trách nhiệm về những vấn đề mà giờ đây họ đề xuất cách
giải quyết.
Nhận thức về giai cấp đã bị áp đảo trong giai đoạn Nội chiến, ở cả miền
Bắc và miền Nam, bởi chính trị và quân sự đều có sự thống nhất trong thời
kỳ khủng khoảng của cuộc chiến. Sự thống nhất đó yếu dần trước những lời
nói khuếch trương và được tăng cường nhờ vũ khí. Cuộc chiến được tuyên
bố là vì mục đích giải phóng, nhưng những người lao động sẽ bị quân lính
tấn công nếu họ dám biểu tình, người Anh-điêng có thể bị quân Mỹ tàn sát
tại Colorado và những ai dám chỉ trích các chính sách của Lincoln có thể bị
tống giam mà không cần xét xử – có lẽ đã có tới 30 nghìn tù chính trị.