thế bằng các phán quyết của tòa án, điều này tạo thêm sự phụ thuộc vào các
luật sư, do đó nghề luật ngày càng chiếm vị trí quan trọng. ý tưởng tạo ra sự
công bằng về giá cả tại tòa án đã phải nhường bước cho ý tưởng bên mua
phải chịu rủi ro (để người mua phải biết trước), như vậy điều này đã khiến
hàng thế hệ người tiêu dùng thời đó phải phụ thuộc vào ân huệ hay lòng tốt
của giới kinh doanh.
Để chứng minh rằng, luật về hợp đồng là nhằm phân biệt đối xử chống lại
người lao động và ủng hộ giới chủ, Horwitz đã đưa ra các thí dụ của giai
đoạn đầu thế kỷ XIX: Các tòa án tuyên bố rằng, nếu một công nhân ký hợp
đồng làm việc trong một năm, nhưng bỏ việc trước khi kết thúc năm, anh ta
sẽ không được hưởng chút lương bổng nào, kể cả đối với khoảng thời gian
anh ta đã làm việc. Tuy nhiên, đồng thời các tòa án tuyên bố rằng, nếu một
doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng phá vỡ một hợp đồng, doanh nghiệp
đó vẫn được thanh toán căn cứ theo khối lượng công việc đã hoàn thành
tính đến thời điểm phá vỡ hợp đồng.
Luật pháp ngụy biện rằng một công nhân và một hãng đường sắt ký hợp
đồng với uy thế mặc cả ngang nhau. Tuy nhiên, một thẩm phán tại
Massachusetts đã phán quyết một công nhân bị thương không được hưởng
tiền bồi thường, bởi vì khi ký hợp đồng, anh ta đã đồng ý chấp nhận rủi ro.
“Cái vòng tròn đó rất hoàn hảo, luật pháp chỉ đơn thuần phê chuẩn những
dạng bất công mà hệ thống thị trường đã tạo ra.”
Đó là giai đoạn mà luật pháp thậm chí không buồn tỏ ra là nhằm bảo vệ
người lao động – như đã làm được trong thế kỷ tiếp theo. Các luật về chăm
sóc sức khỏe và an toàn lao động hầu như không tồn tại, hoặc không được
thi hành. Vào một ngày mùa đông năm 1860, tại Lawrence, Massachusetts,
nhà máy xay Pemberton bị đổ sập, khi đó khoảng 900 công nhân, phần
đông là phụ nữ, đang làm việc. 88 người đã chết. Mặc dù có chứng cớ chỉ ra
rằng thiết kế của nhà máy không chịu đựng được cỗ máy nặng nề bên trong