LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 361

cũng là những gì mà miền Nam vốn phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp,
phản đối trước khi tuyên bố ly khai. Bản cương lĩnh năm 1860 của Đảng
Cộng hòa là một lời kêu gọi rõ ràng đối với những người kinh doanh. Năm
1861, Quốc hội đã thông qua chính sách Thuế Morrill (Morrill Tariff). Điều
này khiến hàng hóa nước ngoài trở nên đắt đỏ hơn, tạo điều kiện cho các
nhà sản xuất tại Mỹ có thể nâng giá các sản phẩm và buộc người tiêu dùng
tại Mỹ phải trả nhiều tiền hơn.

Sang năm tiếp theo, Đạo luật Homestead (Homestead Act) được thông qua.
Nó cho phép cấp tới 160 mẫu đất công, chưa có người chiếm giữ ở miền
Tây, cho bất cứ ai sẵn lòng canh tác trong vòng năm năm. Bất cứ ai, sẵn
lòng trả giá 1,25 đô-la một mẫu có thể mua được một trang trại. Nhưng ít
người bình thường có thể có nổi 200 đô-la để mua; các tay đầu cơ đổ xô
mua và nhanh chóng chiếm phần đa số đất. Tổng diện tích đất trang trại lên
tới 50 triệu mẫu. Nhưng trong thời Nội chiến, Quốc hội và Tổng thống đã
cấp không tới hơn 100 triệu mẫu cho các công ty đường sắt khác nhau.
Quốc hội cũng thiết lập một ngân hàng quốc gia, đặt chính phủ vào quan hệ
đối tác với các lợi ích ngân hàng, nhằm bảo đảm lợi nhuận cho chính ngân
hàng.

Các cuộc đình công ngày càng tăng, giới chủ càng ra sức thúc ép Quốc hội
giúp đỡ. Luật về Hợp đồng lao động (Contract Labor Law) năm 1864 cho
phép các công ty ký hợp đồng với lao động nước ngoài, nếu người lao động
cam kết dành 12 tháng lương để chi phí cho việc nhập cư. Điều này giúp
giới chủ trong thời gian Nội chiến không chỉ có được nhân công rẻ mạt, mà
còn có thêm những kẻ phá hoại đình công.

Có lẽ một điều quan trọng hơn đó là các luật liên bang do Quốc hội thông
qua vì lợi ích của tầng lớp giàu lại được thi hành hàng ngày trong hệ thống
luật pháp của các bang và các địa phương vốn chỉ chú trọng đến quyền lợi
của giới chủ đất và thương gia. Trong cuốn History of the Great American