LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 404

Việc buôn bán lao động trẻ em nhập cư phát triển, hoặc thông qua các hợp
đồng ký với các bậc cha mẹ đã tuyệt vọng tại quê nhà, hoặc bị bắt cóc. Bọn
trẻ sau đó bị giám sát bởi các “trùm cái bang” dưới hình thức nô lệ, đôi khi
chúng bị ép biểu diễn âm nhạc để ăn xin. Hàng đàn trẻ em lang thang khắp
các đường phố ở New York và Philadelphia.

Khi những người nhập cư đã trở thành công dân trung lập hơn, họ bị lôi kéo
vào hệ thống hai đảng của nước Mỹ, bị thuyết phục để trung thành với đảng
này hoặc đảng khác, năng lực chính trị của họ bị hút vào các cuộc bầu cử.
Một bài báo trên tờ L'ltalia, tháng 11 năm 1894, đã kêu gọi người ý ủng hộ
Đảng Cộng hòa:

Khi các công dân Mỹ sinh ra ở nước ngoài từ chối liên kết với Đảng Cộng
hòa, họ đã tuyên chiến với chính lợi ích của họ. Đảng Cộng hòa ủng hộ tất
cả những gì mà người ở Cựu Thế giới đang đấu tranh. Đảng này là người
bảo vệ cho tự do, sự tiến bộ, trật tự và luật pháp. Đảng này là kẻ thù kiên
định của tầng lớp quân chủ.

Trong những năm 1880 có khoảng 5,5 triệu người nhập cư, đến những năm
1890, con số này khoảng 4 triệu, tạo ra sự dư thừa về nhân công, lương bị
cắt giảm. Người nhập cư dễ bị kiểm soát hơn, ít được bảo vệ hơn so với dân
bản địa; họ bị cách biệt về mặt văn hóa, bị tách biệt khỏi nhau, do đó được
sử dụng như người phá đình công. Khi trẻ em tham gia thị trường lao động,
điều này cũng làm gia tăng vấn đề về lao động dôi dư và tình trạng thất
nghiệp; năm 1880 có tới 1.118.000 trẻ em dưới 16 tuổi (chiếm một phần sáu
tổng số trẻ em) tham gia thị trường lao động tại Mỹ. Trong hoàn cảnh mọi
thành viên trong gia đình phải làm việc phần lớn thời gian trong ngày, họ
trở nên xa lạ với nhau. Một thợ chuyên gia công đồ áo tên là Morris
Rosenfeld đã viết bài thơ My Boy (Cậu bé của tôi), sau đó nó nhanh chóng
được sao chép và phổ biến rộng rãi:

Tôi có một đứa con trai bé bỏng,