choàng và sơ mi, gồm cả nam và nữ (tổ chức các cuộc mít-tinh riêng rẽ
nhưng cùng nhau hành động) cũng đình công. Tờ New York World đã gọi
đó là “một cuộc nổi dậy vì bánh mỳ và bơ”. Họ đã nhận được lương cao
hơn và giảm giờ làm.
Mùa đông năm đó, tại Yonkers, một số ít nữ công nhân làm thảm bị phạt vì
gia nhập nhóm Hiệp sỹ Lao động; vào tháng 2 lạnh giá, 2.500 công nhân đã
bỏ làm và đứng chặn trước cổng nhà máy. Trong số đó chỉ có 700 người là
thành viên của nhóm Hiệp sỹ Lao động, nhưng chẳng mấy chốc những
người tham gia đình công đã gia nhập. Cảnh sát tấn công những người chặn
cửa nhà máy và bắt giữ họ, nhưng tòa án kết luận họ vô tội. Một bữa ăn tối
thịnh soạn đã được những người lao động tại New York tổ chức để tôn vinh
họ, có tới hai nghìn đoàn đại biểu của các công đoàn từ khắp nơi trong
thành phố đã tới dự. Cuộc đình công kéo dài sáu tháng, những người phụ nữ
đạt được một số yêu cầu, đã quay trở lại làm việc, dù tổ chức công đoàn của
họ không được công nhận.
Một điều hết sức lạ lùng đối với nhiều cuộc đấu tranh như vậy là những
người đình công chưa bao giờ giành được hết những gì họ muốn, tuy nhiên
bất chấp điều kỳ quặc đó, họ vẫn phán kháng và không hề bị bẻ gãy.
Có lẽ phải nhận thấy rằng cuộc chiến hàng ngày vẫn chưa đủ, thay đổi nền
tảng là hết sức cần thiết, như vậy mới có đủ khả năng để thúc đẩy sự lớn
mạnh của phong trào cách mạng thời điểm đó. Đảng Lao động Xã hội, được
thành lập năm 1877, lúc đó vẫn còn non trẻ và bị giằng xé bởi các lập luận
khác nhau trong nội bộ, nhưng cũng đã có những ảnh hưởng nhất định đối
với việc tổ chức các công đoàn trong giới công nhân ngoại quốc. Tại New
York, những người Do Thái theo phong trào chủ nghĩa xã hội đã hợp nhau
lại và xuất bản một tờ báo. Tại Chicago, các nhà cách mạng Đức, cùng với
những người cấp tiến bản địa như Albert Parsons đã thành lập các hội Cách