Chính phủ thực hiện phần việc của mình là giúp đỡ các chủ nhà băng và
làm tổn thương những người nông dân; chính phủ duy trì ổn định một lượng
tiền mặt – đã được bảo đảm bằng vàng, trong khi dân số gia tăng, ngày càng
có ít tiền lưu thông. Nông dân phải trả các khoản nợ bằng những đồng đô-la
mà họ rất khó khăn mới kiếm được. Các chủ nhà băng, sau khi thu hồi các
khoản vay về, sẽ có lượng tiền lớn hơn mức họ cho vay – một loại lãi suất
trên các mức lãi suất. Đó là lý do tại sao các phong trào nông dân vào
những ngày đó là đòi hỏi bơm thêm tiền vào lưu thông – bằng cách phát
hành thêm tiền giấy (loại tiền tệ không được bảo đảm bằng vàng tại kho
bạc) hoặc lấy bạc làm cơ sở cho việc phát hành tiền.
Tại Texas, phong trào Liên minh Nông dân đã bắt đầu. Tại miền Nam, hệ
thống trả nợ theo mùa màng chuyển sang giai đoạn tàn bạo nhất. Thông qua
hệ thống này nông dân có thể ứng trước từ các thương gia những gì mà họ
cần: máy tỉa hạt bông trong lúc thu hoạch, bất cứ mặt hàng nào mà họ
muốn. Nông dân không có tiền để trả ngay, do đó các thương gia nắm giữ
phần thế chấp là mùa màng – trong đó nông dân phải chịu lãi suất lên tới
25%. Goodwyn cho biết “hệ thống thế chấp mùa màng đã chi phối hàng
triệu nông dân miền Nam, cả da đen và da trắng, hệ thống này chỉ khác hệ
thống nô lệ đôi chút”. Mỗi năm nông dân vẫn có thể được vay thêm tiền cho
đến khi cuối cùng trang trại của họ bị thu hồi và họ trở thành tá điền.
Goodwyn đã đưa ra hai câu chuyện cá nhân để minh họa cho vấn đề này.
Trong quãng thời gian từ năm 1887 đến 1895, một nông dân da trắng tại
Nam Carolina đã mua hàng hóa và dịch vụ từ một nhà cung cấp với tổng
giá trị lên tới 2.681,02 đô-la, nhưng anh ta chỉ có thể trả được 687,31 đô-la
và cuối cùng phải gán đất cho người này. Một nông dân da đen tên là Matt
Brown, ở vùng Black Hawk, Mississippi, từ năm 1884 đến 1901 đã mua các
mặt hàng từ cửa hàng Jones, mãi vẫn không trả được hết nợ và đến năm
1905, mặt hàng cuối cùng trong sổ của thương gia dành cho người nông dân
này là một chiếc quan tài và dịch vụ mai táng.