công việc đồng áng trong các trang trại màu mỡ của họ. Khi mà các cậu bé
và cô bé không phải đi đến miền Tây hoặc vào các thành phố, khi mà cuộc
đời đáng để sống. Đến ngày đó, mặt trăng sẽ sáng hơn, các vì sao sẽ lấp
lánh hơn, niềm vui, thơ ca và tình yêu cuộc sống sẽ quay lại với những con
người vun xới đất đai.
Hamlin Garland viết cuốn Jason Edwards năm 1891 để dành riêng cho Liên
minh Nông dân. Liên minh Nông dân này chính là nòng cốt của một phong
trào lớn trong những năm 1880-1890, mà sau này có tên là phong trào Dân
túy.
Giữa những năm 1860 và 1910, sau khi đánh bật các ngôi làng người Anh-
điêng ra khỏi vùng Đồng bằng Lớn, quân đội Mỹ đã mở đường cho các hệ
thống đường sắt tiến vào và giành những vùng đất tốt nhất. Sau đó nông
dân tràn vào chiếm lấy những gì còn sót. Từ năm 1860 đến 1900, dân số
Mỹ tăng từ 31 lên 75 triệu người; giờ đây 20 triệu người đã sống ở khu vực
phía tây Mississippi, con số nông trang tăng từ 2 triệu lên 6 triệu. Do các
thành phố ở phía Đông đông đúc dân cư rất cần lương thực, thị trường
lương thực nội địa đã tăng gấp đôi; 82% sản phẩm nông nghiệp được tiêu
thụ bên trong nước Mỹ.
Hoạt động canh tác bắt đầu sử dụng các loại cày máy, máy gặt, máy đập,
máy tỉa hạt bông cải tiến để tách sợi bông từ hạt; và đến đầu thế kỷ XIX, đã
có những kỹ thuật vượt bậc trong việc gặt lúa mỳ, đập và đóng bao. Năm
1830, một giạ lúa mỳ mất ba giờ để xay xát, đến năm 1900 chỉ còn mất 10
phút. Chuyên môn hóa đã được phát triển theo từng vùng: bông và thuốc lá
ở miền Nam, lúa mỳ và ngô ở vùng Trung Tây.
Mua đất thì mất tiền, mua máy móc cũng tốn kém – do đó nông dân phải
vay mượn, với hy vọng rằng các vụ thu hoạch của họ vẫn duy trì được giá
cao, để họ có thể trả nợ cho nhà băng, trả phí vận chuyển cho ngành đường
sắt, trả tiền mua lúa mỳ cho những nhà buôn, trả tiền lưu kho cho các nhà