trình trước Quốc hội: “Tất cả những hoạt động đó là nhằm ngăn chặn ảnh
hưởng của Đảng Bolshevik ở Nga.”
Nói ngắn gọn, nếu như lý do nước Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai
(và nhiều người Mỹ lúc đó cũng tin như vậy, khi chứng kiến sự xâm lược
của Đức Quốc Xã) là để bảo vệ các nguyên tắc không can thiệp vào công
việc nội bộ của các quốc gia khác thì với những thành tích đã kể trên đây,
khó có ai dám tin rằng nước Mỹ đang duy trì được các nguyên tắc đó.
Có vẻ như vào thời điểm đó, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là hiện thân của nền
dân chủ tự do, còn nước Đức là đại diện cho chế độ độc tài đang tàn sát dân
tộc Do Thái, sẵn sàng tống giam bất cứ ai ở bất kỳ tôn giáo nào dám đứng
lên phản kháng, và luôn hô hào và đề cao khái niệm “chủng tộc thượng
đẳng”. Tuy nhiên, những người da đen, khi chứng kiến nạn bài trừ Do Thái
ở nước Đức, có thể nhận ra rằng tại nước Mỹ tình cảnh của họ cũng không
khác những người Do Thái là bao. Và bản thân nước Mỹ cũng không ít lần
thực thi các chính sách đàn áp giống như của Hitler. Sự thực, Hoa Kỳ đã
đồng lõa với Anh và Pháp trong việc nhượng bộ Hitler trong suốt những
năm 1930. Roosevelt cùng ngoại trưởng của ông, Cordell Hull đã do dự
trong việc công khai chỉ trích chính sách bài trừ Do Thái của Hitler; khi Hạ
viện đưa ra nghị quyết vào tháng 1 năm 1934 yêu cầu Tổng thống và
Thượng viện phải tỏ ra “ngạc nhiên và đau đớn” trước những tội ác mà Đức
Quốc Xã đã gây ra, và yêu cầu phải khôi phục lại quyền cho người Do Thái.
Theo Arnold Offner, “Tuy nhiên, nghị quyết này đã nhanh chóng bị Bộ
Ngoại giao Mỹ ém nhẹm đi” (trích trong tác phẩm American Appeasement
– Sự nhân nhượng của nước Mỹ).
Năm 1935, Italia, dưới sự lãnh đạo của Mussolini, tiến hành xâm lược
Ethiopia. Nước Mỹ đã ban hành một lệnh cấm chuyên chở vũ khí nhưng
vẫn cho phép các doanh nghiệp của mình vận chuyển dầu tới Italia với số
lượng lớn, thứ vô cùng cần thiết để nước ý tiến hành chiến tranh. Năm