1936, khi cuộc nổi loạn của nhóm những kẻ theo chủ nghĩa phát-xít chống
lại Đảng Xã hội – Tự do diễn ra tại Tây Ban Nha, chính quyền Roosevelt
chỉ tỏ thái độ trung lập nhằm ngăn cản sự trợ giúp đối với chính phủ Tây
Ban Nha, còn Hitler và Mussolini thì ráo riết viện trợ cho Franco . Offner
cho rằng:
... Hoa Kỳ thậm chí đã vượt ra ngoài những yêu cầu pháp lý quy định tính
trung lập của nó. Có thể thấy rằng nếu Mỹ, Anh và Pháp trợ giúp kịp thời
cho những người thuộc Đảng Cộng hòa Tây Ban Nha trước tháng 11 năm
1936, khi sự viện trợ của Hitler cho Franco vẫn còn chưa chắc chắn, có thể
họ đã giành phần thắng. Kết quả là, nước Đức đã giành được mọi lợi thế
trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha.
Phải chăng đây là một quyết định thiếu cân nhắc, hay chỉ đơn giản là một
sai lầm đáng tiếc? Liệu đây có phải là chính sách hợp lý của một chính phủ
mà mối quan tâm lớn nhất của nó không phải là ngăn chặn chủ nghĩa Phát-
xít mà là phát triển những lợi ích to lớn của nước Mỹ? Đối với những lợi
ích đó, trong những năm 1930, chính sách chống Xôviết xem ra là thích hợp
hơn cả. Sau này, khi các lợi ích toàn cầu bị Nhật Bản và Đức đe dọa, thì
chính sách thân Xôviết, chống Đức Quốc Xã lại trở nên quan trọng.
Roosevelt quan tâm nhiều đến việc kết thúc sự đàn áp đối với người Do
Thái giống như Lincoln chú trọng kết thúc chế độ nô lệ trong suốt cuộc Nội
chiến, những ưu tiên của họ trong chính sách (bất cứ điều gì từ lòng trắc ẩn
của họ đối với các nạn nhân của sự phân biệt đối xử) giờ đây không phải là
quyền dành cho một nhóm thiểu số nữa, mà nó đã trở thành sức mạnh dân
tộc.
Sự đàn áp của Hitler đối với người Do Thái không phải là nguyên nhân
khiến Mỹ tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai, giống như việc giải
phóng 4 triệu người da đen đã đem đến cuộc Nội chiến năm 1861. Italia tấn
công Ethiopia, Hitler xâm lược áo rồi chiếm lấy Tiệp Khắc, Phần Lan – tất