cả những sự kiện đó cũng không phải là nguyên nhân khiến nước Mỹ tham
chiến cho dù Roosevelt đã bắt đầu viện trợ cho Anh. Cái đã lôi kéo Hoa Kỳ
vào một cuộc chiến chính là cuộc tấn công của Phát-xít Nhật nhằm vào hải
quân Mỹ đóng tại Trân Châu Cảng, Hawaii, vào ngày 7 tháng 12 năm 1941.
Dĩ nhiên, việc đánh bom vào dân thường một cách tàn bạo của Nhật Bản đã
khiến Roosevelt vô cùng giận dữ và tuyên bố chiến tranh – mặc dù trước
đó, cuộc oanh kích tương tự năm 1937 vào thành phố Nam Kinh, Trung
Quốc của Phát-xít Nhật cũng không làm nước Mỹ mảy may bận tâm đến
chuyện tham chiến. Vậy là chỉ duy nhất có cuộc đột kích của Nhật Bản vào
cầu nối nằm trên Đế chế Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (American Pacific
Empire) là làm được điều đó.
Chừng nào Nhật Bản còn là một thành viên biết cư xử đúng mực trong
nhóm các Cường quốc trên thế giới, biết duy trì chính sách mở cửa và chia
sẻ những gì mà nó bóc lột được từ Trung Quốc thì chừng đó nước Mỹ vẫn
sẽ để nó yên. Trong thông điệp gửi cho Nhật Bản năm 1917, có đoạn viết:
“Chính phủ Hoa Kỳ công nhận rằng Nhật Bản có những lợi ích đặc biệt tại
Trung Quốc.” Năm 1928, theo Akira Iriye (trong After Imperialism), lãnh
sự Mỹ đã ủng hộ cho cuộc tiến công của quân đội Nhật vào Trung Quốc.
Chỉ khi Nhật Bản đe dọa các thị trường tiềm năng của Hoa Kỳ bằng cách cố
gắng kiểm soát toàn bộ Trung Quốc, và đặc biệt là tìm cách chiếm lấy các
nguồn tài nguyên như thiếc, cao su và dầu mỏ, thì nước Mỹ mới bắt đầu
quan tâm đến những biện pháp tấn công Nhật Bản: một lệnh cấm vận toàn
diện về sắt và dầu được công bố vào mùa hè năm 1941.
Theo như những gì Bruce Russet nhận định (trong tác phẩm No Clear and
Present Danger – Hiện thực nguy hiểm và không rõ ràng): “Trong suốt
những năm 1930, chính phủ Hoa Kỳ hành động rất ít để ngăn chặn sự bành
trướng của Nhật Bản trên lục địa châu á trừ các vùng phía Tây Nam Thái
Bình Dương, nơi có những nguồn lợi kinh tế không thể chối cãi của nước