LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 625

các quan chức Nhật Bản và lập luận rằng chính nước Mỹ đã khiêu khích
Nhật Bản trước và buộc nước này phải gây chiến. Richard Minear (trong tác
phẩm Victor’s Justice – Lý lẽ của kẻ chiến thắng) đã tổng kết quan điểm của
Pal về các chính sách cấm vận sắt phế liệu và dầu như sau: “Những biện
pháp đó thật sự là nguy cơ rõ ràng và nguy hiểm đối với sự tồn tại của Nhật
Bản.” Các ghi chép cũng cho thấy rằng Nhà Trắng đã tổ chức một cuộc họp
hai ngày trước khi Trân Châu Cảng bị tấn công để thảo luận phương hướng
giải quyết hợp lý.

Bản báo cáo về sự bành trướng của Nhật Bản, một năm trước sự kiện Trân
Châu Cảng, không hề nhắc tới việc thiết lập quyền độc lập và tự quyết cho
Trung Quốc mà nói rằng:

... Vị trí ngoại giao và chiến lược của chúng ta đã bị tổn hại nghiêm trọng –
bằng việc bị mất thị trường ở Trung Quốc, Ấn Độ và các vùng biển phía
Nam (và chúng ta sẽ còn mất nhiều hơn nữa bởi hàng hóa của Nhật Bản,
khi nước này ngày càng trở nên thịnh vượng) cũng như bị hạn chế trong
việc khai thác các nguồn tài nguyên quan trọng như cao su, thiếc, đay cùng
nhiều loại nguyên liệu quan trọng khác ở châu á và châu Đại Dương.

Việc tham chiến cùng với Anh và Nga (Đức và Italia tuyên chiến với Mỹ
ngay sau sự kiện Trân Châu Cảng) của Hoa Kỳ là vì lòng nhân đạo, hay vì
quyền lực và lợi ích? Phải chăng nước Mỹ muốn chấm dứt sự đô hộ của
một số quốc gia lên những quốc gia khác để chắc chắn rằng những nước bị
chiếm đóng đó sẽ là bạn của nước Mỹ? Tháng 4 năm 1941, Roosevelt và
Churchill đã nhóm họp ngoài khơi vùng bờ biển Newfoundland và công bố
với quốc tế về Hiến chương Đại Tây Dương (Atlantic Charter), nhằm đưa ra
các mục tiêu quan trọng của thế giới sau chiến tranh, tuyên bố rằng các
quốc gia ấy “không nhằm mở rộng đất đai, lãnh hải hay những thứ khác”,
và điều mà họ tôn trọng là “các dân tộc có quyền lựa chọn hình thức chính