đai, lãnh thổ và những thứ khác” mà Roosevelt tuyên bố trong bản Hiến
chương Đại Tây Dương thì sao?
Thông tin về các trận đánh và các hoạt động của quân đội tràn ngập trên các
mặt báo như: Cuộc tiến công vào Bắc Phi năm 1941, Italia năm 1943, cuộc
đột kích ồ ạt và bất ngờ qua eo biển Manche của nước Đức – giành lại nước
Pháp năm 1944, những trận chiến đẫm máu để đẩy lùi quân Đức vào tận sâu
trong biên giới, các cuộc không kích ngày càng tăng của không lực Hoàng
gia Anh và Mỹ. Và, cùng lúc đó, là những chiến thắng của quân đội Nga
trước Đức Quốc Xã (cùng thời điểm với cuộc đột kích qua eo biển Manche,
quân Nga đã giải phóng toàn bộ lãnh thổ Xôviết và tiêu diệt gần 80% lực
lượng Phát-xít). Ở Thái Bình Dương, từ năm 1943 tới 1944, quân đội Hoa
Kỳ tiến công vào Nhật Bản bằng cách xâm chiếm từng hòn đảo của nước
này và cho xây dựng các căn cứ quân sự phục vụ cho các cuộc ném bom
vào những thành phố lớn.
Lặng lẽ đằng sau những tiêu đề về các trận chiến và các cuộc ném bom đó,
giới ngoại giao và doanh nhân Mỹ làm việc cật lực để đảm bảo rằng vào
thời khắc cuộc chiến kết thúc, sức mạnh của nền kinh tế Mỹ sẽ trở thành
độc nhất vô nhị trên thế giới. Hoa Kỳ sẽ chiếm lấy những khu vực do nước
Anh nắm giữ trước đây. Chính sách mở cửa với quyền thâm nhập bình đẳng
sẽ được áp dụng từ châu âu sang châu á, điều đó có nghĩa là Anh quốc sẽ bị
gạt sang một bên và nhường ngai vàng cho nước Mỹ.
Đó cũng là những gì đã xảy ra với Trung Đông và số dầu mỏ mà khu vực
này nắm giữ. Tháng 4 năm 1945, một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ phát
biểu: “Lịch sử ngoại giao 35 năm cho thấy dầu mỏ đóng một vai trò quan
trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ hơn bất cứ một loại hàng hóa
nào khác.” Arap Saudi được coi là “rốn dầu” của Trung Đông. Bộ trưởng
Bộ Nội vụ Harold Ickes đã tiếp tay cho tập đoàn dầu khí ARAMCO thuyết
phục Roosevelt đồng ý thông qua gói viện trợ cho Arap Saudi dưới hình