LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 626

phủ cho đất nước mà họ đang sống”. Hiến chương được coi là lời tuyên bố
về quyền tự quyết của các quốc gia.

Tuy nhiên, hai tuần trước khi công bố bản Hiến chương, Quyền Ngoại
trưởng Mỹ, Summes Welles, đã đảm bảo với chính phủ Pháp rằng họ có thể
giữ cho đế chế của mình nguyên vẹn sau khi chiến tranh kết thúc: “Chính
phủ chúng tôi, với bổn phận là một người bạn lâu đời của chính phủ Pháp,
cảm thông sâu sắc với ước nguyện của nhân dân Pháp là duy trì và bảo vệ
toàn vẹn lãnh thổ.” Tài liệu về Lịch sử Bộ Quốc phòng Việt Nam (The
Pentagon Papers
– Báo cáo của Lầu Năm Góc) cũng nhắc đến cái gọi là
chính sách “nước đôi” đối với bán đảo Đông Dương, trong đó nói rằng
“trong Hiến chương Đại Tây Dương cùng nhiều văn kiện khác, Hoa Kỳ
tuyên bố sẽ hỗ trợ các quốc gia khác có được quyền tự quyết và độc lập”
nhưng cũng “liên tục bày tỏ hay đề cập gián tiếp đến ý định khôi phục cho
nước Pháp những lãnh thổ thuộc Pháp ở nước ngoài sau chiến tranh.”

Cuối năm 1942, với tư cách cá nhân Roosevelt đã bảo đảm với Tổng tư lệnh
Pháp là Henri Geraud: “Cần phải hiểu rõ rằng, chủ quyền nước Pháp sẽ
được tái thiết lập nhanh nhất có thể tất cả mọi lãnh thổ, đô thị hay thuộc địa,
những nơi mà lá cờ nước Pháp đã tung bay trong năm 1939.” (Những trang
viết này, như bất kỳ những trang nào khác trong Báo cáo của Lầu Năm Góc
đều được đóng dấu “Tuyệt mật”). Năm 1945, thái độ “nước đôi” chính thức
chấm dứt. Tháng 5, Truman cam kết rằng ông ta không nghi ngờ “chủ
quyền Đông Dương của nước Pháp”. Mùa thu năm đó, trong hội nghị
Potsdam, Hoa Kỳ đã thuyết phục Trung Hoa Dân Quốc tiếp quản một phần
phía bắc bán đảo Đông Dương, sau đó sẽ chuyển lại cho người Pháp, bất
chấp nỗ lực đòi quyền độc lập của Việt Nam.

Đó có thể coi là sự ưu ái giành cho chính phủ Pháp. Vậy tham vọng của
riêng nước Mỹ trong suốt cuộc chiến là gì? Rồi lời tuyên bố “mở rộng đất