đạo luật theo yêu cầu của Ủy ban Dân quyền. Tuy nhiên, bốn tháng trước
kỳ bầu cử Tổng thống năm 1948, trước sức ép của phe cảnh tả mà đại diện
là Henry Wallace của Đảng Cấp tiến, Truman đã ban hành sắc lệnh yêu cầu
các lực lượng vũ trang đang duy trì nạn phân biệt đối xử trong Chiến tranh
thế giới thứ hai phải thực thi ngay chính sách bình đẳng sắc tộc. Thực ra,
mệnh lệnh đó đã có thể được thực hiện trước đó rất lâu, khi mà nhu cầu duy
trì tinh thần các binh sỹ gốc Phi trước nguy cơ chiến tranh đang tăng là thực
sự cần thiết. Nạn phân biệt đối xử trong quân đội đã phải mất hơn một thập
kỷ mới thực sự được chấm dứt.
Truman đã không ban hành các sắc lệnh tương tự tại các khu vực khác trong
khi ông ta hoàn toàn có thể làm như vậy. Tu chính án số và số 15 được
thông qua vào cuối những năm 1860 và đầu 1870 đã trao cho Tổng thống
nhiều quyền lực hơn trong việc xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc. Hiến pháp
yêu cầu Tổng thống phải thực thi các điều luật đó, song không một vị Tổng
thống nào sử dụng tới sức mạnh đó, kể cả Truman. Ví dụ như ông đã yêu
cầu Quốc hội thông qua đạo luật “Cấm phân biệt đối xử trên các phương
tiện giao thông giữa các tiểu bang”; tuy nhiên, điều này đã được quy định
cụ thể trong đạo luật năm 1887 nhưng lại không bao giờ được thực thi bằng
các hành động pháp lý thật sự.
Trong khi đó, trải qua 90 năm kể từ khi Hiến pháp được sửa đổi để thiết lập
quyền bình đẳng chủng tộc, giờ đây Tòa án Tối cao mới thực sự tìm cách
chấm dứt tình trạng đó. Trong suốt thời gian diễn ra chiến tranh, quy định
“Bầu cử chỉ dành cho người da trắng” vốn được sử dụng để loại bỏ người
da đen ra khỏi cuộc tuyển cử trong Đảng Dân chủ bị tuyên bố là trái với
hiến pháp.
Năm 1954, Tòa án đã đưa ra nguyên tắc “chia rẽ nhưng bình đẳng”, nguyên
tắc này đã nhận được sự ủng hộ trong những năm 1890. Trước đó, hiệp hội
NAACP từng đưa ra một loạt các sự kiện nhằm thách thức nạn phân biệt