LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 721

của khu vực này chính là chìa khóa then chốt đối với phần còn lại của Đông
Nam á”. Cũng trong năm đó, một báo cáo khác của Bộ Ngoại giao đưa ra
nhận định: thực dân Pháp đã hoàn toàn thất bại trong cuộc chiến ở Đông
Dương cũng như không có được sự hỗ trợ đầy đủ từ mẫu quốc, và lo sợ
rằng một sự thỏa hiệp với Việt minh lúc này “sẽ dẫn đến một thất bại toàn
diện đối với chủ nghĩa cộng sản ở bán đảo Đông Dương và trên toàn Đông
Nam á”. Bản báo cáo đi đến kết luận: “Nếu người Pháp quyết định rút quân,
người Mỹ sẽ phải cân nhắc xem liệu có nên tiếp quản khu vực này hay
không.”

Năm 1954, thực dân Pháp buộc phải rút quân vì đã không thể chiến thắng
được tinh thần chiến đấu quật cường của dân tộc Việt Nam, dưới dự lãnh
đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc.

Một hội nghị quốc tế được tổ chức tại Geneva đã thông qua Hiệp định về
vấn đề hòa bình cho bán đảo Đông Dương. Hiệp định bãi bỏ quyền cai trị
của người Pháp trên bán đảo Đông Dương, công nhận nền độc lập của ba
quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia; chính thức chấm dứt chế độ thực
dân Pháp tại Đông Dương. Nội dung chính của Hiệp định Geneva là tạm
thời chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự: chính quyền và quân đội
khối Liên hiệp Pháp sẽ tạm thời rút quân vào miền Nam, chính quyền và
quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tiếp quản miền Bắc, và một cuộc
bầu cử thống nhất sẽ được tiến hành sau hai năm trên toàn lãnh thổ Việt
Nam để bầu chọn chính phủ của riêng người dân Việt Nam.

Hoa Kỳ ngay lập tức ngăn chặn quá trình thống nhất đó, biến miền Nam
Việt Nam thành căn cứ của người Mỹ. Hoa Kỳ đưa Ngô Đình Diệm lên làm
tổng thống của chính phủ miền Nam Việt Nam, xúi giục Diệm không tổ
chức bầu cử theo Hiệp định nhằm ngăn cản việc thống nhất Việt Nam. Một
bản hồi ký của Tham mưu trưởng đầu năm 1954 đã viết: Các thông tin tình
báo cho thấy “gần như chắc chắn quyền lãnh đạo ba nước liên minh [Lào,