thống Johnson có đủ quyền lực tiến hành các hành động quân sự mà ông ta
thấy “thích hợp” tại Đông Nam á.
Hai tháng sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, giới lãnh đạo trong chính phủ Hoa Kỳ
đã nhóm họp tại Honolulu cùng thảo luận về một nghị quyết mới. Trong
cuộc họp đó, Ngoại trưởng Rusk tuyên bố: “Tới thời điểm này, có khá nhiều
ý kiến về chính sách của chúng ta tại Đông Nam á, và vì thế Tổng thống cần
một sự hỗ trợ chắc chắn.”
Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ đã trao quyền cho Tổng thống được bắt đầu chiến
sự mà không cần Quốc hội tuyên bố tình trạng chiến tranh theo như quy
định trong Hiến pháp. Tòa án Tối cao, cơ quan giám sát việc thực thi Hiến
pháp, trước yêu cầu từ dư luận về việc vi phạm hiến pháp, đã một lần nữa từ
chối giải trình một số kiến nghị về vấn đề chiến tranh tại Việt Nam.
Ngay sau đó, máy bay chiến đấu của Mỹ bắt đầu oanh tạc miền Bắc Việt
Nam. Trong năm 1965, hơn 200 nghìn lính Mỹ đã được gửi đến miền Nam
Việt Nam, năm 1966 200 nghìn lính nữa được bổ sung. Tính đến đầu năm
1968, 500 nghìn quân nhân Mỹ có mặt tại Việt Nam và không lực Hoa Kỳ
đã thả số lượng bom lớn chưa từng có trong lịch sử. Hình ảnh về những con
người nhỏ bé – nạn nhân đau thương của trận ném bom nhanh chóng được
truyền đi khắp thế giới. Ngày 5 tháng 6 năm 1965, phóng viên tờ New York
Times thường trú tại Sài Gòn đưa tin:
Thứ hai tuần trước, khi các binh sỹ Cộng sản rút khỏi Quảng Ngãi, máy bay
ném bom của Hoa Kỳ đã tấn công các quả đồi mà họ đang hướng đến. Theo
một thống kê thì có khoảng 500 dân thường Việt Nam thiệt mạng trong trận
đánh đó. Mục tiêu của người Mỹ là tiêu diệt lực lượng quân Giải phóng.
Nhưng trong một bệnh viện tại Việt Nam, ba phần tư nạn nhân bị thương do
dính bom napan và bom xăng được điều trị ở đó là phụ nữ và trẻ em.
Ngày 6 tháng 9, một tờ báo khác đưa tin từ Sài Gòn: