trận rồi được nuôi dưỡng giữa những người Anh-điêng, và khi điều này xảy
ra, dù có cơ hội để ra đi vẫn chọn cách ở lại trong cộng đồng Anh-điêng.
Ngược lại, người Anh-điêng, khi đứng trước sự lựa chọn tương tự, hầu như
không bao giờ quyết định gia nhập cộng đồng người da trắng.
Trong tác phẩm Letters from an American Farmer (Những lá thư của một
nông dân Mỹ), Hector St. Jean Crevecoeur − một người Pháp sống tại Mỹ
gần 20 năm − đã kể lại việc trẻ em bị bắt trong Cuộc chiến Bảy năm , được
bố mẹ tìm thấy khi chúng đang sống cùng người Anh-điêng, đã từ chối trở
về với gia đình cũ. ông nói: “Chắc chắn chúng phải có những ràng buộc xã
hội, một sức hấp dẫn kỳ lạ nào đó, một điều phi thường vượt xa bất cứ thứ
gì mà chúng ta đang lấy làm tự đắc; đã có hàng nghìn người châu âu trở
thành người Anh-điêng, và chúng ta không hề có thí dụ nào về việc thổ dân,
dù chỉ là một người, lựa chọn trở thành người châu âu.”
Nhìn chung, người Anh-điêng luôn bị giữ một khoảng cách. Và chế độ
thuộc địa cũng tìm được một cách hạn chế các nguy cơ: thông qua việc độc
quyền chiếm giữ các khu đất tốt ở vùng biển phía đông, họ ép những người
da trắng không có đất tiến dần về phía tây tới vùng giáp giới, nơi những
người này phải chạm trán trực tiếp với người Anh-điêng cũng là để tạo ra
vùng đệm bảo vệ giới nhà giàu ven biển trước những rắc rối với người Anh-
điêng, những người da trắng cũng phải lệ thuộc vào sự bảo hộ của chính
phủ. Cuộc nổi dậy Bacon đã để lại một bài học: Thu phục số dân Anh-điêng
đang trên đà giảm sút bằng cách chọc giận những người da trắng này tại các
vùng giáp giới là một điều rất mạo hiểm. Tốt hơn hết là gây chiến với người
Anh-điêng, giành sự ủng hộ của người da trắng, cố gắng chuyển hướng
cuộc xung đột giai cấp tiềm tàng thành cuộc đấu tranh của người nghèo da
trắng với người Anh-điêng nhằm bảo đảm an ninh cho tầng lớp thượng lưu.
Liệu người da đen và người Anh-điêng có bắt tay với nhau để chống kẻ thù
da trắng? Tại các thuộc địa ở miền Bắc, (trừ các vùng Cape Cod, Martha's