trên giường tầng xuống rồi cứ thế chạy xuống khu vực ăn sáng. A ha! Vừa
kịp lúc. Chỉ còn có hai phần ăn sáng còn lại. Tôi cười, bonjour và merci bà
ấy, và đắc thắng mang bữa sáng ra một góc ngồi ăn trong tình trạng tóc tai
bơ phờ, mặt mũi còn chưa rửa, miệng đắng ngắt, vừa ăn vừa nghĩ xem ngày
hôm nay tôi muốn làm gì. Tôi nửa muốn đi ra khỏi Paris, tới cung điện
Versailles, nửa muốn chỉ dành cả ngày ở quanh Latin – có lẽ là lại vào
vường Luxembourg nằm đọc sách. Tôi cũng muốn tìm cho được phố Rue
Moueffetard mà Hemingway gọi là “The cesspool
[52]
” – cái phố tôi đã cố tìm
nhưng bằng cách nào đó nó luôn trốn thoát khỏi tôi dù tôi đã qua lại khu
Latin đến ngàn lần. Cứ như thể cái phố này cố tình chơi trò trốn tìm với tôi.
Sau cùng, không thể nào chọn lấy một thứ, tôi quyết định tôi sẽ đi bộ ra bến
tàu St. Michel/Notre Dame để bắt tàu RER tới Versailles; và nếu trên đường
đi tới bến tàu mà tôi đổi ý thì tôi sẽ ở lại. Tối nay, tôi sẽ ăn tối chia tay với
Kai lúc 8 giờ nên kiểu gì tôi cũng phải trở lại khách sạn khoảng 6 giờ rưỡi
để còn tắm gội, chuẩn bị trước.
[52] Cái hố phân.
Ra khỏi khách sạn, tôi không thể không nhận thấy rằng Paris lại đang
đón tiếp một dòng khách du lịch mới. Cũng không có gì ngạc nhiên. Các
sách du lịch đều khuyên tháng Chín là tháng tốt nhất để tới. Hôm tôi mới
tới, khách sạn này hầu như không có người, phòng để hành lý chỉ có một
cái va li lớn và các đường phố hầu như không có du khách, còn hôm nay,
phòng hành lý chật ních các loại ba lô và va li, quầy máy tính lúc nào cũng
có ít nhất hai người đang đứng chờ vào Internet, phòng ăn sáng chật người
và trên các đường phố của khu Latin, khu Marais, khu Les Halles, thì du
khách nhiều hơn người Paris.
Tôi đang đi dọc phố Thánh Michel về phía bến tàu thì thấy một đoàn
người rất đông, đa số da đen, đi ngược lại từ đầu kia. Những người đi đầu
cầm loa và họ đang gào lên những câu có chữ “papier”. Tôi biết chữ này
nghĩa là giấy tờ, chứng từ gì đó nhưng không biết chính xác cái có vẻ là một